Tẩy Tủy Công - Kungfu

Tẩy Tủy Công - Kungfu

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Tẩy Tủy Công - Kungfu, Martial Arts School, Phòng 3 Tầng 21/Dolphin Plaza/Mỹ Đình/Hanoi, Hanoi.

31/03/2024

Đạo gia & Tech
Theo ông, Tam giáo Phật-Nho-Lão có ảnh hưởng gì đến việc dân Việt Nam chấp chận và sử dụng công nghệ mới?
Đây là một câu hỏi rất thú vị và gợi mở. Thú thực là tôi cũng chưa nghĩ đến bao giờ. Nên cứ chém bừa nhé. Tôi không phải là Phật tử, chưa đọc sách các bậc Nho giáo thánh hiền, cũng không thông Kinh Dịch. Chỉ là có duyên gặp, tập và trò chuyện với sư phụ võ công theo phái đạo gia. Nên thấm được hai khái niệm chính: khí và thân thể.
Khí – Khí công thì chắc anh em đọc Kim Dung ai cũng biết. Giờ cũng nhiều người tập. Theo tôi có điểm tương đồng rất lớn giữa khí và thông tin. Khí thì có ở nơi nơi. Vấn đề là chúng chạy tán loạn, gây hại. Thông tin cũng vậy, trên mạng đầy, đa phần là fake. Mấu chốt đều là phải học cách tập trung, để có thể sinh, tụ, thông, điều khí – thông tin làm cho mình khỏe khoắn, thông suốt.
Khái niệm về thân thể - body, hơi phức tạp hơn chút. Đạo Lão đã đưa ra lời giải đáp ứng khát vọng tự do của cá nhân ngay trong bản thân mỗi người. Đại loại là trong cơ thể ta chứa cả vũ trụ. Chỉ cần kiểm soát được ta, là có thể ung dung tồn tại trong thế giới. Điều này khá giống với công nghệ đang hot bây giờ là blockchain: muốn thoát khỏi kiểm soát của bên thứ ba, thì tốt hết là giữ luôn một bản sao của cả thế giới ở trong mình. Đơn giản vậy thôi!
Ông tin tưởng vào tương lai của blockchain mặc dù vô khối các scandal và sự sụp đổ của các đồng tiền crypto trong thời gian gần đây?
Tất nhiên. Đó chỉ là những điều chỉnh tạm thời. Blockchain sẽ phát triển vì nó đưa ra lời giải công nghệ cho khát vọng tự do của con người. Nên nhớ là nó mới có hơn 10 năm tuổi. Còn đạo Lão đã tồn tại hàng ngàn năm đấy!
Như vậy ông cho là đạo Lão mặc dù với quan điểm vô vi, thuận tự nhiên, xa lánh thế giới, không hề mâu thuẫn gì với công nghệ?
Vâng, anh em trong nhóm khí công chúng tôi, toàn dân công nghệ cả!
(Trả lời phỏng vấn của dự án: Ảnh hưởng của triết học Á đông lên công nghệ do Đại học VinUni tiến hành. Hỏi hay vãi!)
Một chia sẻ của Đại Sư Huynh Nguyễn Thành Nam

Call now to connect with business.

25/10/2023

𝗖ả𝗺 𝗻𝗵ậ𝗻 𝗰ủ𝗮 𝗺ộ𝘁 𝗵ọ𝗰 𝘃𝗶ê𝗻 𝘀𝗮𝘂 𝗸𝗵𝗶 𝘁ậ𝗽 𝗧ẩ𝘆 𝗧ủ𝘆 𝗖ô𝗻𝗴

Tôi đến với Tẩy tuỷ công rất tình cờ, qua FB. Trước đó, cũng đã từng nghe hay đọc đâu đó nhưng không nhiều thong tin, chỉ khiến sự tò mò thêm nhiều.
Vậy nên khi có thông tin về lớp học liền quyết định rất nhanh đăng ký tham gia. 52 tuổi bắt đầu học tẩy tuỷ công cũng không phải là muộn :)

Rồi cũng đến buổi học đầu tiên. Phỏng vấn với thầy. Thầy hỏi về sức khoẻ, nghe xong trả lời bảo mày khoẻ thế đi học tẩy tuỷ công làm gì :D Không biết trả lời như nào. Từ buổi đầu đến giờ vậy mà đã được hơn 2 tháng, mà cảm nhận sau khi tập luyện thấy có nhiều điều thú vị.

Buổi đầu, thầy hướng dẫn cho vài động tác rồi hỏi cảm thấy thế nào. Mình nghĩ mới tập một hai động tác thì chắc là chưa thể cảm nhận hay “thấy” gì được. Vậy mà trái lại. Mới làm mỗi động tác vài lần, thì thấy cảm giác hai cánh tay nặng, hai bên nách căng phồng như mặc áo chật. Quá ngạc nhiên vì sao lại nhanh thế. Cảm giác hai cánh tay nặng như có nước đổ bên trong. Chưa hết, cảm giá trong sống lưng thì khó diễn tả hơn, hơi nhột nhột, kích thích dễ chịu. Mình bị đau đốt sống lưng C5, bác sỹ bảo không được tập nặng sẽ ảnh hướng có thể làm thoát vị đĩa đệm, nên rất lo ngại khi đi tập. Nhưng các bài tâp xoay nhẹ và chậm rãi không làm đau, trái lại như một cách xoa bóp cột sống, khiến dễ chịu.

Thời gian thầy ở Hà Nội không dài, chỉ đến tập được với thầy khoảng 6 buổi, đủ để thầy hướng dẫn những bài tập cơ bản nhất, tuy vậy lại có rất nhiều điều thú vị thu nhận được.

Ngoài hướng dẫn các động tác tập cơ bản thầy cũng hay nói chuyện. Nhớ buổi đầu, thầy hỏi và biết mình có tập VX, thầy thú vị lắm. Lúc sau vào tay thử, thầy gác tay lên bảo ẩn đi. Tay thầy lỏng, nhưng không thể ẩn được ngược lại còn bị đẩy lùi khỏi vị trí cân bằng. Mà khi đó mình đã biết thầy thử, nên cũng đã cố thả lỏng hết sức, không dùng lực. Chỉ ai đã tập qua nội gia thì sẽ hiểu cảm giác thả lỏng và thân người nặng như chì này. Ai lỏng hơn, nghe lực tốt hơn, sẽ điều khiển được đối phương. THầy nhẹ chuyển hướng lực là mình bật khỏi vị trí, thấy thế thầy cười khà khà, bảo đó tập nhẹ nhàng như này mới thú vị, chứ không phải lao vào đánh nhau ầm ầm.

Thầy còn giảng giải về nguồn gốc đòn thế của môn VX, vốn do nữ sáng tạo nên cách đánh là của đàn bà, mang đặc trưng của phụ nữ thời đó, nhất là thế tấn chụm chân. Thầy bảo do thời đó phụ nữ bàn chân bị bó, không đứng thế thì mất thăng bằng ngã ngay, cách di chuyển và đòn thế cũng ngắn.

Sau buổi tập đầu tiên, cảm nhận sau khi tập là cơ thể nhẹ nhõm, hay cánh tay nặng, hai bên nách căng. Một lúc sau khi ngồi trên xe máy về thì cảm nhận khoan khoái vùng bụng dưới, bụng trước và vùng thắt lưng sau. Cảm giác ở vùng bên trong bụng, rất thích (khó diễn tả, vì nó còn hơn cả thích).

Thấy tôi có vẻ thích thú với các cảm nhận mới này, thầy bảo kệ nó, không để ý tới mà để nó tự nhiên. Thuận theo tự nhiên, là điểm rất quan trọng, thầy nhắc lại nhiều lần.
Tập chậm, không vội, không ham. Thầy không vội hướng dẫn nhiều, cứ theo thực trạng tiếp thu, cảm nhận, khả năng cơ thể mà đưa ra khối lượng bài tập.
Tập khí công nó không như tập các môn thể thao khác, rất khó để nhận biết sự khác biệt trước và sau mỗi buổi tập, mà là sự tích luỹ và chuyển biến từ từ, đến một lúc nào đó sẽ nhận thấy sự khác biệt. Ở trên tôi thấy thực sự ngạc nhiên vì những cảm nhận rất nhanh sau 1 buổi tập. Các buổi sau đó, không để ý nhiều đến nữa. Nhưng có một cảm giác rõ là trong cơ thể có sinh lực, nó như được đánh thức, khởi động sau khi tập các động tác cơ bản kia.
Phần bài tập cơ bản đã xong, chuyển sang phần “nặng”. Có lẽ đây là bài tập có một không hai, không có môn phái nào khác. Thầy hỏi thấy thế nào, dạ thấy hơi tức tức căng căng. Thầy bảo không sao, rồi sẽ hết. Đến lần tập thứ 2 thì đã thấy nhẹ nhàng hơn rồi. Thầy bảo không vì thấy dễ mà ham làm nhiều, cứ từ từ mà đi.
Đây cũng là điểm rất quan trọng. Ham quá làm nhiều thì hao sức, lấy gì bù đắp lại kịp.

Cũng vừa hết thời gian thầy ở Hà Nội, từ giờ là tự tập ở nhà. Tôi cố gắng thu xếp tập hàng ngày, vào một khung giờ nhất định. Khả năng mang vác đã được nâng lên, mà trước giờ không dám nghĩ là có thể làm được. Sau mỗi lần tập, cũng có thấy mệt, và ướt vì … mồ hôi. Thầy bảo tốt, ra mồ hôi là thải độc.
Không mong cầu cảm giác, cứ đều đặn tập hàng ngày, nhưng tôi sau khoảng 3 tuần thì thấy lúc nào cũng thèm ăn, với lại ngủ nhiều, mà người thì chả lên cân. Ngủ rất nhanh và rất sâu, trước còn đặt chuông dậy sớm, giờ không dậy nổi :D Còn ăn thì bụng mà không căng quá thì cứ thế mà ăn tiếp, phải chủ động hãm lại.
Nhưng cái cảm giác hơn hẳn, đó là sự kết nối toàn thân. Cái này khó mô tả, vì nó là cảm nhận vi tế. Kiểu như ẩn vào đầu ngón tay thì nó cảm nhận xuống gót chân. Không biết mô tả này có đúng không nữa.
Tôi cũng chơi các môn thể thao khác như chạy, bơi, nhưng không dùng dụng cụ như xà hay tạ để tập cơ bắp. Tập được vài tuần, thấy bắp tay tròn căng, nở, nhưng không phải kiêu gân cơ khô cứng. Tuy không gân cơ, nhưng va chạm với tay bạn tập cũng không vì thế mà bị đau.

Đến giờ mới được hơn 2 tháng tập, còn nhiều cảm nhận chưa rõ nét, nhưng những gì thấy được cũng đã rất nhiều. Chỉ nhờ lời thầy là kệ nó cứ tập đi, không hỏi gì hết .

Photos from Tẩy Tủy Công - Kungfu's post 24/06/2023

𝐁á𝐭 𝐐𝐮á𝐢 𝐂𝐡ưở𝐧𝐠

Bát Quái Chưởng là một trong ba môn quyền thuật nội gia. Bát Quái đề cao việc hoán đổi lực theo chiều ngang và chuyển chưởng. Tên Bát Quái, do nguyên lý của môn này, bắt nguồn từ học thuyết trong kinh dịch. Học thuyết bát quái đề cao việc thường xuyên biến đổi; tất cả mọi vật đều biến đổi, không có gì dừng lại. Bát Quái Chưởng bao gồm các thế võ đi theo hình tròn được đặt tên dựa theo chuyển động của các con vật xà (rắn), ưng, long, hùng (gấu), kỳ lân, phụng (phượng hoàng), sư tử và hầu (khỉ).

Các nguồn tin cậy cho rằng Bát Quái Chưởng được sáng tạo bởi Đổng Hải Xuyên (1813-1882), người tỉnh Hồ Bắc, Văn An. Đổng Hải Xuyên là người rất yêu thích võ thuật khi còn nhỏ. Khi còn trẻ, ông là một người nghèo và thường xuyên phải đi từ nơi này sang nơi khác để kiếm sống.
Khi Đổng đến núi Cửu Hoa Sơn ở phía nam tỉnh An Huy, ông đã gặp một đạo sĩ có tên Bi Cheng Xia, người đã dậy ông một môn võ bí mật của đạo gia. Sau đó Đổng học được những kĩ thuật khác từ Guo Yuan Ji người có biệt hiệu “Thiết côn đạo sĩ”.

Đổng đã kết hợp các kĩ thuật về quyền thuật học được với thiền định và các bài luyện khí mà ông thực hành khi là một đạo sĩ của phái Toàn Chân thuộc dòng Long Môn. Theo lễ nghi thực hành để chuyển hóa tâm, môn hạ của Long Môn phái phải niệm chú và đi theo vòng tròn. Thực hành này được gọi là “Tế Thiên Toàn Chuyển” (có nghĩa là đi theo vòng tròn để tế trời”) được thực hiện khi đi theo vòng tròn và niệm một hoặc hai câu thần chú khác nhau, một câu buổi sáng và một câu buổi tối. Không có gì phải nghi ngờ về việc đi theo vòng tròn để định tâm này đã trở thành một phần quan trọng trong việc phát triển võ thuật của Đổng, khi ông tổng hợp nhiều kĩ thuật võ thuật khác nhau tạo thành một môn quyền thuật mới.

Môn quyền thuật mà ông phát triển là một phương pháp chiến đấu sử dụng thuyết đạo gia và du già khi đi theo vòng tròn. Nó giúp bình tâm và thân và do việc di chuyển theo vòng tròn đã tạo ra một cuộc cách mạng trong nghệ thuật chiến đấu.

Đổng Hải Xuyên đến Bắc Kinh khoảng năm 1870. Năm 1875 khi vua Quang Tự đến thăm cung của Thành Thân Vương, nơi Đổng bắt đầu dậy kĩ thuật Bát Quái Chưởng, sau đó nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Đổng Hải Xuyên có hơn 100 đệ tử nhưng chỉ có 13 người là truyền nhân.

Một trong những truyền nhân của Đổng là Mã Duy Kỳ (Ma Wei Qi 1851-1880). Mã là người Bắc Kinh và là người có tính tình rất nóng nảy. Ông có biệt hiệu là “Môi Mã” (Mã Than) vì ông làm việc trong một cửa hiệu than. Ông thường hay khoe khoang và thường hay biểu diễn kĩ thuật thiết giáo trước khi gặp Thành Thân Vương. Ông có kĩ năng đặc biệt là cú đấm cầu mà thường sau 10 ngày thì đổi thủ mới gặp thương tích nặng, điều này giúp ông tránh khỏi việc liên lụy đến pháp luật. Mã Duy Kỳ được coi là một trong những học trò xuất sắc nhất của Đổng, tuy vậy Mã không nổi tiếng nên ông có rất ít học trò. Mã chết bất ngờ khi còn trẻ và có nhiều giả thuyết về cái chết của ông đến nay vẫn còn tiếp tục. Có giả thuyết cho rằng Mã đã bị hạ độc, sau khi thắng đổi thủ trong một lần thi đấu.

Một trong số ít các học trò của Mã và là học trò xuất sắc nhất là một người tên Yang Ru Lin (Dương Như Lâm?). Yang Ru Lin đã dậy Đại sư phụ Kiều Trường Hồng môn Bát Quái Chưởng vào những năm 1932 khi Yang Ru Lin là quản gia trong gia đình của Kiều sư phụ.

Photos from Tẩy Tủy Công - Kungfu's post 24/06/2023

𝗧𝗵á𝗶 𝗖ự𝗰 𝗤𝘂𝘆ề𝗻 - 𝗧𝗿ầ𝗻 𝗣𝗵á𝗻 𝗟ĩ𝗻𝗵 (𝟵𝟵)

Thái Cực Quyền là một môn quyền thuật cổ của Trung Quốc được sử dụng trong chiến đấu và rèn luyện sức khỏe.

Trương Tam Phong, sống vào thời nhà Tống (Thế kỷ 13) được coi là người sáng tạo ra Thái Cực Quyền. Dựa vào các tư thế chiến đấu của xà, hạc và việc luyện tập nội công. Thái Cực có tác dụng rất lớn với sức khỏe. Thường xuyên luyện tập Thái Cực Quyền có thể: tăng cường khả năng chuyển động linh hoạt, sức mạnh cơ bắp, hệ tuần hoàn, khả năng thăng bằng, tư thế cơ thể, khả năng thư giãn và nói chung tăng cường sức khỏe, ngoài ra đây còn là một phương pháp chiến đấu hữu hiệu. Thôi thủ (đẩy tay) là một bài tập hai người của Thái Cực Quyền. Bài tập này phát triển khả năng chiến đấu của Thái Cực Quyền sử dụng khả năng thăng bằng, linh giác, mượn lực đối phương, và kĩ thuật hóa giải một đòn thế tấn công tám lạng bạt ngàn cân khác với việc sử dụng sức mạnh cơ bắp.

Cho đến tận thế kỷ 19, Thái Cực Quyền vẫn là bí mật chỉ lưu truyền trong gia đình họ Trần. Vào thời gian đó Dương Lộ Thiền (1780-1873) một người Hồ Bắc đã học được Thái Cực Quyền từ Đại Sư Phụ Trần Trường Hưng. Dương sau đó tới Bắc Kinh và trở nên nổi tiếng trong giới võ thuật, ông truyền lại môn quyền thuật này cho các con cháu trong gia đình, những người sau đó đã dậy lại môn này cho cộng đồng. Cháu của Dương Lộ Thiền, Dương Trừng Phủ (1883 - 1935) đã sáng tạo ra bài quyền với các đặc trưng mà ngày nay trở nên phổ biến, được nhiều người biết đến là Dương gia Thái Cực, được thực hiện chậm rãi, trang nhã và có nhiều vòng tròn lớn, tăng cường linh giác và luyện các kỹ thuật một cách chuẩn xác.

𝐓𝐫𝐮𝐧𝐠 Ươ𝐧𝐠 𝐐𝐮ố𝐜 𝐓𝐡𝐮ậ𝐭 𝐐𝐮á𝐧
Trung Ương Quốc Thuật Quán được thành lập ở Nam Kinh bởi chính quyền Quốc Dân Đảng năm 1928 nhằm truyền bá võ thuật Trung Quốc. Và là một trung tâm quan trọng của võ thuật vào thời Nam Kinh. Quốc Thuật là một từ để gọi võ thuật được sử dụng vào thời Trung Hoa Dân Quốc. Hội Quán được lãnh đạo bởi 5 võ sư bao gồm Fu Chen Sung, Wan Lai Sheng, Gu Ru Zhang, Lý Liệt Quân (Li Lie Jun 1882-1946), Lý Cảnh Lâm (Li JingLin 1884-1931) và Trương Chi Giang (Chang Chih Chiang 1882 - 1966).

Cùng với Tinh Võ Thể Dục Hội (thành lập năm 1910), hội quán đóng vai trò thiết yếu trong việc truyền bá võ thuật Trung Quốc ở thế kỷ 20.

Tháng 4 - 1928, Hội quán tổ chức giải thi đấu võ thuật đầu tiên ở Bắc Kinh theo thể thức đấu lôi đài. Được chủ trì bởi tướng quân Trương Chi Giang. Cuộc thi đấu đã thu hút hơn 400 võ sĩ xuất sắc nhất Trung Quốc.

Tháng 10 - 1928, Trung Ương Quốc Thuật Quán tổ chức một cuộc thi đấu khác ở Nam Kinh. Sự kiện này được coi là một trong những sư kiện lịch sử của võ học Trung Quốc. Cuộc thi đấu được chủ trì bởi tướng Trương Chi Giang, Lý Liệt Quân, Lý Cảnh Lâm, 600 võ sĩ được chia thành 2 nhánh: Thiếu Lâm và Võ Đang. Sau một vài ngày thi đấu đầu tiên, những cuộc thi đấu đã phải tạm dừng vì có 2 võ sư đã chết và nhiều người khác bị trọng thương. 12 võ sư còn lại cuối cùng không được phép tham gia thi đấu vì lo sợ các bí kíp võ công sẽ bị thất truyền nếu các võ sư bị tử thương và người thắng cuộc được lựa chọn bởi hội đồng trọng tài. Nhiều người nằm trong số 15 người cuối cùng (trong đó có nhiều người là võ sư môn Hình Ý Quyền) đã ở lại dậy võ tại Hội Quán.

Dương Trừng Phủ được chỉ định là người đứng đầu dậy môn Thái Cực Quyền; Tôn Lộc Đường là HLV trưởng môn Hình Ý Quyền; và Phó Chấn Tung (Fu Chen Sung) được chỉ định làm HLV trưởng môn Bát Quái Chưởng.

Năm 1929, thị trưởng tỉnh Quảng Đông đã mời các võ sư của Hội Quán (trong đó có những người đã tham gia thi đấu lôi đài năm 1928) đến phía nam Trung Quốc để lập nên Nam Phương Quốc Thuật Quán. Tướng Lý Cảnh Lâm đã chọn năm sư phụ đại diện cho võ thuật phương bắc: võ sư Bát Quái Chưởng, Phó Chấn Tung, võ sư môn Thiếu Lâm Thiết Chưởng, Cố Nhữ Chương (Gu Ru Zhang), võ sư môn Lục Hợp Quyền, Vạn Lãi Thanh (Wan Lai Shen), võ sư môn Đài Thoái Quyền (Đàn Thối - Tan Tui), Li Shan Wu, võ sư môn Trường Quyền (Cha Chuan), Wang Shao Zhao. Năm vị võ sư này thường được biết đến là Ngũ Hổ Hạ Giang Nam. Năm 1933, một lần nữa hội quán tổ chức cuộc thi đấu quốc gia. Trong đó có luật, “Nếu võ sĩ bị chết do thương tích trong chiến đấu, xác của võ sĩ sẽ được đưa về tận nhà”.

𝐇𝐢ệ𝐩 𝐡ộ𝐢 𝐓𝐡á𝐢 𝐂ự𝐜 𝐐𝐮𝐲ề𝐧 Đà𝐢 𝐁ắ𝐜
Có rất nhiều những võ sư nổi tiếng là những người lưu vong và là người của chính phủ đã chạy đến Đài Loan sau cuộc chiến nội chiến Trung Quốc năm 1949. Nhằm gìn giữ các truyền thống võ học, một hiệp hội võ thuật đã được thành lập. Một trong những sáng lập viên là Đại sư phụ Kiều Trường Hồng. Được khởi xướng bởi ủy viên bộ chính trị Trần Phán Lĩnh (một võ sư nổi tiếng người là tổng giáo luyện của Trung Ương Quốc Thuật Quán tại Nam Kinh, đồng thời là cựu tỉnh trưởng tỉnh Hồ Nam và là Hiệu Trưởng trường đại học Cao Hùng) hai thành viên của hiệp hội, những người bạn lâu năm là Đại sư phụ Kiều Trường Hồng và Sư phụ Vương Diên Ninh (Wang Yen Nien), đã quyết định lập một CLB Thái Cực Quyền. CLB được thành lập vào ngày 27-3-1960. Trần Phán Lĩnh là chủ tịch CLB, Kiều Đại sư phụ là giám đốc điều hành, Vương Diên Ninh là HLV Trưởng. Những thành viên khác bao gồm những nhân vật nổi tiếng như Trịnh Mạn Thanh (Cheng Man Ching), Vương Thụ Kim (Wang Shu Chin), Kuo Lien Yin, Hsiung Yang Ho và nhiều người khác. Khi CLB trở nên lớn hơn và có tổ chức, vào năm 1963 CLB đã chuyển thành Học viện nghiên cứu Thái Cực Quyền. Năm 1966, chuyển thành liên đoàn võ thuật độc lập. Đại sư phụ Kiều làm giám đốc điều hành cho đến năm 1975, sau đó thì liên đoàn được sát nhập vào hiệp hội thể thao Đài Loan và đổi tên là Hiệp Hội Thái Cực Quyền Đài Bắc Trung Hoa, và tồn tại cho đến ngày nay như là một nơi gìn giữ Thái Cực Quyền Trung Hoa. Những thành viên đầu tiên của hội đã truyền bá và phát triển Thái Cực Quyền ra khắp thế giới. Đại sư phụ Kiều là một trong những nhân vật quan trọng nhất của thế hệ đầu và là một trong những sáng lập viên của Hiệp hội Thái Cực Quyền Đài Bắc Trung Hoa.

𝐓𝐫ầ𝐧 𝐏𝐡á𝐧 𝐋ĩ𝐧𝐡
Trần Phán Lĩnh sinh năm 1892 và đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu và dậy võ thuật Trung Hoa cho đến khi ông mất năm 1967. Ông là một chuyên gia võ ngoại gia quyền cũng như 3 môn nội gia quyền thuật: Hình Ý Quyền, Bát Quái Chưởng và Thái Cực Quyền. Năm 1940, ông tham gia vào Trung Ương Quốc Thuật Quán và làm phó chủ tịch và chủ tịch hội đồng chuẩn hóa võ thuật truyền thống và phát triển các bài quyền tiêu chuẩn.

Sư phụ của Trần Phán Lĩnh bao gồm: ông học Hình Ý Quyền từ Lý Tồn Nghĩa và Liu Tsai Chen, Bát Quái Chưởng từ Tung Lien-Chi và Cheng Hai-Ting (con Trình Đình Hòa); Thái Cực Quyền từ Ngô Giám Tuyền, Dương Thiếu Hầu, Ji Zu-Xiu và Xu Yu-Sheng. Ông cũng dành một năm (từ 1927 đến 1928) ở làng Trần Gia Câu để nghiên cứu về Trần gia Thái Cực Quyền. Ông còn được đưa vào danh sách của Chen Xin là một trong những người đã đóng góp cho cuốn sách Thái Cực Quyền Trần Gia nổi tiếng của Chen Xin.

Một trong những sự kiện quan trọng của Trung Ương Quốc Thuật Quán là việc thống nhất các bài quyền của Thái Cực Quyền thành một bài duy nhất, được coi là bài quyền chính gốc của Thái Cực Quyền Trung Quốc, sau này được nhắc đến là bài quyền 99 động tác của Trần Phán Lĩnh. Bài quyền Trần Phán Lĩnh là tổng hợp của Thái Cực Quyền Dương gia, Ngô gia, Trần gia. Cũng giống như bài quyền của Dương Trừng Phủ, nó có thể chia thành 6 phần. Ngoài ra, nó có có hơi hướng của bài quyền được Trần sư phụ học từ Dương Thiếu Hầu. Bài quyền 99 là một bài trung giá và thường được luyện tập mà không thực hiện việc phát kình, giống như các bài quyền của Dương và Ngô gia. Ở bài quyền này ảnh hưởng của Dương gia và Ngô gia là rất rõ ràng, ngoài ra thì những động tác xoay eo, hông và triền ty kình là ảnh hưởng từ việc nghiên cứu Thái Cực Quyền Trần gia. Thêm nữa, còn có những động tác thể hiện sự ảnh hưởng từ Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng.

Sau cách mạng văn hóa, Trần Phán Linh đã dành phần còn lại của cuộc đời sống ở Đài Loan nơi ông được coi là võ sư hàng đầu trong thế hệ của mình. Robert Smith đã nói về ông: “Cho đến tận lúc ông chết ở tuổi 77 năm 1967, Trần Phán Lĩnh không còn nghi ngờ gì là người sở hữu nhiều tri thức, nền tảng, và nguyên lý của quyền thuật Trung Hoa hơn bất cứ ai khác trên thế giới này.” Năm 1963, Trần Phán Lĩnh xuất bản cuốn sách Thái Cực Quyền Chính Gốc. Nó được dịch sang tiếng anh vào năm 1998, cuốn sách của ông là một tư liệu tuyệt vời cho những ai quan tâm đến bài quyền của ông và Thái Cực Quyền nói chung.

Photos from Tẩy Tủy Công - Kungfu's post 24/06/2023

𝐓𝐡á𝐢 𝐂ự𝐜 𝐐𝐮𝐲ề𝐧 𝐓𝐫ầ𝐧 𝐆𝐢𝐚

Thái Cực Quyền bắt đầu được chép lại trong các tài liệu chính thức bắt đầu từ thời điểm của Trần Vương Đỉnh. Trần Vương Đỉnh được sinh ra ở tỉnh Hồ Nam phía bắc Trung Quốc vào cuối thế kỷ 16 và là một tướng lĩnh trong quân đội tỉnh Sơn Đông năm 1618. Ông quay trở lại quê quán sau khi triều Minh sụp đổ năm 1644. Sau đó ông bắt đầu dậy Thái Cực Quyền. Ban đầu Thái Cực Quyền bao gồm có 5 bài sáo lộ. Sau nhiều thế hệ rất nhiều các kĩ thuật mới đã được đúc kết và thêm vào, rất nhiều những võ sĩ xuất chúng đã xuất hiện. Cứ sau khoảng 5 thế hệ kể từ Trần Vương Đỉnh thì lại có một võ sư Thái Cực Quyền xuất sắc.
Trần Trường Hưng (1771-1853) đã kết hợp và giản hóa Thái Cực Quyền thành bài quyền Nhất Lộ và Nhị Lộ Pháo Chùy.

Trần Phát Khoa (1887-1957) là con trai của Chen Yan Xi, và là chắt của Trần Trường Hưng. Trần Phát Khoa sinh ra không được khỏe mạnh. Ông ban đầu cũng không phải là một học trò chăm chỉ luyện tập Thái Cực Quyền cho đến khi ông nhận ra rằng quyền thuật của cha mình cần phải được truyền cho một người xứng đáng. Điều này đã thúc đẩy ông luyện tập chăm chỉ, ông được kể lại là đã thức đến tận nửa đêm để luyện tập bí mật cho đến khi thành thạo các kĩ thuật. Ông được công nhận là võ sư khi 17 tuổi. Năm 1907, ở tuổi 20, ông tham gia cuộc thi đấu ở Tiêu Tác và đạt giải nhất. Những lời truyền về tài nghệ của ông đã đến tai lãnh chúa Han Fu Ju, người sau đó đã mời ông về làm quyền sư. Trần từ chối, vị lãnh chúa đã tức giận tấn công Trần với chiếc giáo. Trần dễ dàng phản công, nắm lấy đầu chiếc giáo và phản lại lực của đối phương. Ông sau đó bị tấn công bởi một người khác sử dụng đao và bị cấm dùng tay, ông đã lấy được vũ khí của người này chỉ với đôi chân của mình. Ông được nhớ đến là một người luyện tập rất chăm chỉ, thường luyện tập đến 30 lượt một ngày, và 300 lượt bài tập rung côn. Năm 1928, ông lên Bắc Kinh theo lời mời của người cháu Trần Chiếu Phi. Ông đã xây dựng danh tiếng cho mình khi đả bại những nhân vật nổi tiếng trong giới võ thuật. Sau đó thì Trần gia Thái Cực Quyền trở nên nổi tiếng. Có lẽ đóng góp lớn nhất cho quyền thuật của ông là việc sáng tạo ra dòng “Tân giá” của Thái Cực Trần gia, ông đã bắt đầu dậy Tân giá quyền này từ năm 1940 cho đến khi ông qua đời năm 1957. Ông đã cùng thành lập hiệp hội võ thuật Sơn Tây với Hồ Diệu Trinh (Hu Yao Zhen). Trần Phát Khoa đã dậy rất nhiều những học trò nổi tiếng. Trần Phát Khoa luôn luôn đề cao võ đức trong khi dậy quyền.

Một trong những học trò của Trần Phát Khoa là Phan Vịnh Chu sư phụ (1905-1996) người bắt đầu học với ông ở Bắc Kinh từ năm 1931. Phan sư phụ sau đó đã di tản đến Đài Loan sau nội chiến Trung Quốc, ở đây ông đã dậy và truyền bá rộng rãi Trần Gia Thái Cực Quyền.

Dưới sự giới thiệu của Đại sư phụ Kiều, Kao sư phụ đã trở thành đệ tử của Phan Vịnh Chu sư phụ và học môn Thái Cực Trần gia.

Phan Vịnh Chu sư phụ tập thôi thủ: https://www.youtube.com/watch?v=ACiH7gakrtA

Phan Vịnh Chu tập Lão giá: https://www.youtube.com/watch?v=cKQ7BwILTAE&t=

Photos from Tẩy Tủy Công - Kungfu's post 24/06/2023

𝗛ì𝗻𝗵 Ý 𝗤𝘂𝘆ề𝗻

Hình Ý Quyền là một trong ba môn quyền thuật nội gia Trung Quốc, các môn khác là Thái Cực Quyền và Bát Quái Chưởng. Những môn quyền thuật nội gia này khác với Thiếu Lâm và những môn ngoại gia khác như Karate ở chỗ khả năng vận dụng quyền thuật phụ thuộc vào việc phát triển và sử dụng khí (năng lượng bên trong) chứ không chỉ ở sức mạnh cơ bắp. Nội gia quyền phát triển và sử dụng các gân, dây chằng, trong khi đó ngoại gia trọng tâm vào việc sử dụng hệ thống cơ lớn ở phía ngoài.

Hình Ý Quyền là môn quyền thuật có nguồn gốc từ Đạo gia. Nó được phát triển dựa vào sự hợp nhất thân thể và tâm ý làm thành một. Tên gọi “Hình Ý Quyền” được hiểu môn quyền thuật với sự hợp nhất tâm ý và hình quyền. Phần ý vượt trên phần vật lý và bằng cách hòa hợp ý thức và hành động. Hệ thống này, đã hình thành được khoảng 400 năm, có khả năng tự mô tả thông qua tư thế và bài quyền. Luyện tập Hình Ý Quyền thường xuyên phối hợp, nhịp điệu, điều chỉnh cơ thể dẫn đến một sức khỏe tốt là kết quả tự nhiên của việc luyện tập Hình Ý Quyền.

5 quyền cơ bản của Hình Ý Quyền được gọi là “Ngũ Hành Quyền” được đặt tên dựa theo 5 nguyên tố: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa và Thổ với các thế Phách (bổ), Toản (hất), Băng (khoan), Pháo (đập), Hoành (gạt).

Ngoài 5 quyền cơ bản, Hình Ý Quyền còn có 12 hình dựa vào đặc trưng chiến đấu của 12 loài động vật là: Long, Hổ, Hầu, Mã, Kê (gà), Diêu (ưng nhỏ), Yến (chim), Xà (rắn), Ưng-Hùng, Thai (chim), Đà (cá sấu). Ngoài ra còn có bài ngũ hành liên hoàn quyền, ngũ hành tương sinh, ngũ hành tương khắc và các bài tập khí công.

Lý Tồn Nghĩa sư phụ (1847-1921) là người gốc ở làng Nan Xiao Ying, hạt Shen, tỉnh Hồ Bắc. Lý sư phụ là học trò của Lưu Kỳ Lan (Liu Qi Lan) và Đổng Hải Xuyên đã học thành nghệ cả môn Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng. Vào những năm 1890 Lý sư phụ làm nghề bảo tiêu ở Bảo Định và Thiên Tân. Ông đào tạo vệ sĩ môn Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng. Năm 1900 Lý tham gia đội đảo chính, ông một mình dẫn theo nhiều người xông pha vào nhiều trận đánh chống lại các đội quân ngoại quốc. Chuyện kể về ông nói rằng ông “chiến đấu không mệt mỏi khiến máu thấm đẫm hết cả hai vạt tay áo”. Ông thường sử dụng cây đao trong chiến trận và được gọi là “Lý đơn đao”. Học trò xuất sắc nhất của Lý sư phụ là Thượng Vân Tường (1864-1937).

Thượng Vân Tường sinh năm 1864 ở tỉnh Sơn Đông, hạt Le Linh, làng Thượng gia. Khi còn trẻ ông học Thiếu lâm quyền. Năm 21 tuổi ông gặp được Lý Tồn Nghĩa sư phụ và trở thành học trò xuất sắc nhất và là nhân viên trong đội bảo tiêu ở Thiên Tân. Từ Lý sư phụ ông học được Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng và chuyên sử dụng giáo làm vũ khí. Sau đó Thượng có học một số kĩ thuật Bát Quái Chưởng từ sư phụ nổi tiếng Trình Đình Hoa và học một thời gian với bậc thầy Hình Ý Quyền nổi tiếng Quách Vân Thâm, từ Quách sư phụ, Thượng đã học được bán bộ băng quyền. Ông nhỏ người nhưng rất mạnh mẽ, thường nói to, hay cáu giận và hay đánh. Một người thầy rất khó tính, chuyện kể rằng ông thường vào tay và rất nhiều đệ tử của ông đã bị thương sau những lần luyện tập, có một số người bị thương nặng. Thượng là một người thầy thực dụng và tin vào việc luyện tập cho chiến đấu thực sự. Trong 25 năm dậy võ, ông đã huấn luyện được trên 100 học trò. Một trong những người học trò xuất sắc nhất chính là tướng quân Liu Chi Yuan.

Tướng Quân Liu Chi Yuan là học trò của Thượng Vân Tường, phương pháp dậy của Liu tướng quân cũng gần tương tự như thầy của ông. Sau rất nhiều năm Liu đã đến thành phố Thẩm Dương, và tham gia vào quân đội lãnh chúa ở đây. Sau đó tướng Liu trở thành HLV Trưởng đào tạo võ thuật của binh đoàn đông bắc. Học trò xuất sắc nhất và nổi tiếng nhất của ông chính là Kiều Trường Hồng.

Photos from Tẩy Tủy Công - Kungfu's post 30/04/2023

𝓚𝓲𝓮̂̀𝓾 đ𝓪̣𝓲 𝓼𝓾̛ 𝓹𝓱𝓾̣

Kiều đại sư phụ sinh ra trong một gia đình ở phía chân núi Y Vũ Lộc Sơn thuộc quận Jing Zhou, Liêu Ninh Trung Quốc. Gia đình của Kiều đại sư phụ thường xuyên cúng tài bảo cho đền Tam Thanh và đã cúng 10 hecta đất cho đền sử dụng.

Kiều đại sư phụ có một tài năng đặc biệt với võ thuật. Vào những năm niên thiếu, thầy đã học nhiều môn võ khác nhau từ những vị quản gia của gia đình, những người có những kỹ năng chiến đấu điêu luyện. Thầy đã học Hình Ý Quyền, Bát Quái Chưởng và Thái Cực Quyền từ gia đình, bạn bè và Tướng Quân Liu Chi Yuan người là Tổng Giáo Luyện của quân đội đông bắc Trung Quốc.

Vào thời gian rảnh rỗi, Kiều thường thích rong chơi quanh những quả núi. Một ngày, vào tuổi 16, Kiều đến thăm đền Tam Thanh. Sau khi đã đi hết một vòng, thầy đến phía sân sau, một khu vực tĩnh lặng, cửa đóng then cài. Với bản tính tò mò, Kiều đã trèo qua hàng rào. Ở phía trong, là một đạo nhân đang ngồi trong tư thế thiền định, dường như chẳng hề để ý đến sự xâm nhập này. Kiều với sự thờ ơ, đi một vòng quanh sân sau đó thì xem xét kĩ vị đạo sĩ. Sau một hồi, vị Đạo Nhân mở mắt ra và nói chuyện với Kiều. Trẻ trung và bốc đồng, Kiều nhanh chóng khoe khoang về khả năng võ thuật. Đạo Nhân gợi ý Kiều thể hiện một chút bản lãnh, Kiều sau đó cố gắng thi triển sở học. Khi kết thúc, Đạo nhân nói với Kiều: “Trông có vẻ khá đẹp, nhưng thực ra thì vô dụng”.

Điều này thực sự nằm ngoài suy nghĩ của Kiều. Đạo Nhân sau đó đưa một ngón tay ra ngoài thành hình cái móc rồi nói với Kiều: “Nếu ngươi có thể khiến ta di chuyển, ta sẽ lấy lại lời nói vừa rồi”. Với tất cả nỗ lực, Kiều cố gắng, cố gắng và thất bại. Cuối cùng, Kiều quỳ gối xuống và xin được chấp nhận làm đệ tử.

Vị Đạo Nhân được biết đến với tên gọi Lộc Sơn Đạo Nhân nói với Kiều: “Đó là duyên mệnh khi chúng ta gặp nhau. Gia đình con đã có nhiều đóng góp với ngôi đền này, điều đó được ghi nhận. Nếu cha của con đồng ý, con có thể đến đây và tập luyện với ta”. Sau đó Kiều đã dành trọn 2 năm để tập luyện chăm chỉ với Lộc Sơn Đạo Nhân.

Đó là cơ duyên để Kiều đại sư phụ đến với Tẩy Tủy Công và Tiểu Cửu Thiên Võ Đạo. Kiều đại sư phụ là truyền nhân đời thứ 33 của môn phái và là người đầu tiên không phải đạo sĩ được dậy trọn vẹn hệ thống học thuật.

Thời trẻ, Kiều đại sư phụ học ở Học Viện Quân Sự Nhật Bản. Tuy vậy, Kiều sư phụ bị đuổi khỏi Học Viện do trong một lần tập luyện, ông đã đánh bại HLV người Nhật Bản với kỹ thuật kiếm pháp bản môn.

Trong thời gian chiến tranh giữa Trung - Nhật, Kiều đại sư phụ đã quay trở lại Trung Quốc và trở thành một điệp viên. Trong một lần làm nhiệm vụ, ông bị bắt bởi quân đội Nhật Bản và phải chịu một vết thương nặng do những đòn tra tấn dã man. May mắn thay, ông được cứu thoát bởi người vợ Nhật Bản của mình.
Vào những năm 1950, Kiều đại sư phụ đã di cư đến Đài Loan cùng với chính phủ Tưởng Giới Thạch. Ông làm việc trong chính phủ ở bộ phận an ninh quốc gia. Trong thời gian đó, ông đã giúp quảng bá Kung Fu Trung Quốc. Thông qua giới thiệu và các hiệp hội võ thuật, ông đã dậy môn Tẩy Tủy Công đến các võ sư, các nghị sĩ, tướng lãnh và nhiều học viên khác ở Đài Loan; Ông đã đạt được những vinh dự và danh hiệu:

1. Một trong bốn người duy nhất được phong danh hiệu “Đại Võ Sư” bởi chính phủ Trung Hoa Dân Quốc
2. Một trong người sáng lập nên CLB Thái Cực Quyền, mà hiện thời là Hiệp Hội Thái Cực Quyền Đài Loan
3. HLV Trưởng của đội tuyển Kung Fu Quốc Gia Đài Loan
4. Trưởng trọng tài ở đại hội võ thuật quốc gia Đài Loan
5. Cố vấn của học viện nghiên cứu Kung Fu Trung Quốc tại Paris
6. Đại Võ Sư đầu tiên dậy môn Tẩy Tủy Công đến với những người quan tâm.
7. Là người đầu tiên và duy nhất đã xuất bản cuốn sách về Tẩy Tủy Công Phu. Cuốn sách là bản cập nhật và tổng hợp của 3 cuốn sách trước đó.

Vào cuối những năm 1970, Kiều đại sư phụ đã mở trường dậy Kung Fu cho những người quan tâm, yêu thích. Ông chỉ chấp nhận những học trò có một tinh thần võ thuật và khát khao được học tập. Sự cống hiến này tiếp tục với những đệ tử thân cận, những người được lựa chọn để truyền bá môn nghệ thuật này. Kao sư phụ và Tan Chinh Yun sư phụ của Đài Loan đã được lựa chọn để dậy những người khác và truyền bá tên của Tẩy Tủy Công đến rộng rãi với mọi người. Lý do cho món quà đặc biệt của tri thức này là sự trả ơn cho sự trung thành và hào phóng của con người của vùng đất cho sự phục hưng Trung Hoa - Đài Loan.

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address

Phòng 3 Tầng 21/Dolphin Plaza/Mỹ Đình/Hanoi
Hanoi
100000