Đào Gia Y Viện - Y Học Cổ Truyền Xương, Khớp, Nội Khoa

Đào Gia Y Viện - Y Học Cổ Truyền Xương, Khớp, Nội Khoa

Share

Cung cấp giải pháp trị liệu cho các PK - Spa dưỡng sinh mặt bệnh: Cơ xương khớp - Nội khoa

Lưu giữ - Phát triển YHCT

Tiêu cực BLOCK

07/07/2026

BÀN SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU TRỊ UNG BƯỚU BẰNG TRUNG Y - PHẦN 1

Điều trị ung bướu trên toàn thế giới đều là một vấn đề khó, bất kể là Trung y hay Tây y, đều chưa có phương pháp thật sự tốt. Trước đây, Trung y điều trị ung bướu tương đối ít, đa số mọi người đều cho rằng Trung y chữa khỏi ung bướu là câu chuyện lừa gạt. Người ta cho rằng chỉ có phẫu thuật, xạ trị và hóa trị mới có thể đối phó được với ung bướu. Nhưng hiện nay, rất nhiều bệnh án cho thấy, dùng phương pháp phẫu thuật, hóa trị, xạ trị để đối phó với ung bướu tuy có hiệu quả, nhưng cũng có rất nhiều vấn đề.

Đồng thời, các trường hợp Trung y dược điều trị ung bướu thành công ngày càng nhiều. Ung bướu không đáng sợ như chúng ta tưởng tượng, chỉ có điều hiện nay nhận thức của chúng ta về điều trị ung bướu còn tương đối nông cạn; mọi người đều đang trong quá trình tìm tòi, vì vậy có trường hợp điều trị khỏi, có trường hợp điều trị không khỏi.

Rốt cuộc nên dùng con đường như thế nào để đối phó với ung bướu?

1. Tìm được đường ra cho tà khí

Định vị chính xác có thể là một phương pháp tốt. Ung bướu có rất nhiều loại, bộ vị và tính chất đều không giống nhau, nhưng đều là sự mọc ra của những vật thừa ở một vị trí đặc định. Ví dụ như u tuyến yên, chính là do tế bào tuyến yên trong não người tăng sinh bất thường gây nên. U tuyến yên có thể sản sinh prolactin, khiến phụ nữ tiết sữa trong thời kỳ không cho con bú. Chỉ cần ức chế sự tăng sinh của u tuyến yên, hiện tượng tiết sữa ngoài thời kỳ cho con bú sẽ ngừng lại.

Nói cách khác, nếu tình trạng tiết sữa ngoài thời kỳ cho con bú ngừng lại, thì nhất định là do sự tăng sinh của u tuyến yên đã bị ức chế. Điều này cho thấy những vị thuốc có thể hồi sữa cũng có thể ức chế sự sinh trưởng của u tuyến yên. Hiểu rõ điểm này, con đường dùng thuốc của Trung y trong điều trị u tuyến yên có thể định vị chính xác. Suy rộng ra, chỉ cần chúng ta đem những triệu chứng và thể chứng có ý nghĩa đặc định đối ứng với những khu vực chức năng đặc định của cơ thể, thì có thể đạt được định vị chính xác.

Như vậy, chúng ta đã tìm được phương pháp đối phó với ung bướu ở khu vực chức năng đặc định của cơ thể, có thể thông qua triệu chứng và thể chứng để sàng lọc thuốc và con đường điều trị. Cũng giống như u tuyến yên đã nói ở trên, vì Mạch nha có tác dụng hồi sữa rõ rệt, nên Mạch nha có thể ức chế u tuyến yên. Chúng tôi đã thấy thầy dùng rất nhiều vị Mạch nha hết sức bình thường để điều trị khỏi cho vài người bệnh u tuyến yên, hơn nữa đều đạt được hiệu quả điều trị tốt.

Từ góc độ lý luận Trung y để hiểu việc Mạch nha điều trị u tuyến yên, chúng ta sẽ có thêm nhiều thu hoạch. Lý luận Trung y cho rằng sự bài tiết sữa là do khí huyết đình lưu ở vú gây ra; khí huyết đình lưu ở vú mà không thuận theo Xung mạch đi xuống, vì vậy phụ nữ trong thời kỳ cho con bú không có kinh nguyệt. Mạch nha hồi sữa là vì nó có thể thông khí huyết ở tuyến vú (Can kinh và Vị kinh), đồng thời dẫn khí huyết ấy đi xuống theo Xung mạch đến bào cung.

Trong khi thông giáng xuống, Mạch nha cũng dẫn tà khí gây nên sự bài tiết bất thường của tuyến vú cùng đi xuống tử cung và bài xuất ra ngoài qua kinh nguyệt, tạo cho tà khí một con đường thoát ra. Tà khí có thể bài xuất ra ngoài thì ung bướu tự nhiên sẽ dần dần tiêu trừ.

Vì vậy, cái gọi là định vị chính xác, thực chất chính là phải tìm được một cách chính xác con đường bài xuất của tà khí.

Thực ra, đối với con đường bài xuất tà khí, Trung y từ lâu đã có nhận thức rất sâu sắc. Ví dụ, trong Hoàng Đế Nội Kinh, thiên Linh khu - Tà khách có chép: “Phế Tâm có tà, khí của nó lưu ở hai khuỷu tay; Can có tà, khí của nó lưu ở hai nách; Tỳ có tà, khí của nó lưu ở hai bẹn; Thận có tà, khí của nó lưu ở hai khoeo”.

Linh khu - Căn kết chép: “Thái Dương là khai, Dương Minh là hạp, Thiếu Dương là khu; Thái Âm là khai, Quyết Âm là hạp, Thiếu Âm là khu”. Người đời sau phát triển thêm lý luận khai hạp thành lý luận Ngũ tạng biệt thông, chỉ ra rằng: “Thủ Thái âm Phế kinh và Túc Thái âm Tỳ kinh kinh biệt thông nhau; Túc Thái âm Tỳ và Thủ Thái dương Tiểu trường kinh biệt thông nhau; Thủ Thiếu âm Tâm kinh và Túc Thiếu dương Đởm kinh biệt thông nhau; Túc Thiếu âm Thận kinh và Thủ Thiếu dương Tam tiêu kinh biệt thông nhau; Túc Quyết âm Can kinh và Thủ Dương minh Đại trường kinh biệt thông nhau; Thủ Quyết âm Tâm bào kinh và Túc Dương minh Vị kinh biệt thông nhau”.

Những thông lộ được liệt kê này tuy chưa phải là hoàn toàn chính xác, nhưng trong tình hình hiện nay khi chúng ta còn biết rất ít về con đường bài tà cụ thể của từng loại ung bướu cụ thể, chúng vẫn không mất đi giá trị như một con đường lớn sáng rõ để chỉ đạo điều trị ung bướu trên lâm sàng. Vì vậy, chúng ta thấy thầy căn cứ vào tư tưởng “Can và Đại trường thông nhau” trong học thuyết Ngũ tạng biệt thông, vận dụng con đường thông Đại trường để bài xuất tà khí ở Can trong điều trị ung thư gan, và trên lâm sàng thu được hiệu quả tương đối lý tưởng.

Có phải chỉ cần thông được con đường bài xuất tà khí của ung bướu là đủ rồi không? Đương nhiên là không. Tà khí của ung bướu sâu nặng; một mặt, việc bài xuất tà khí của ung bướu cần tiêu hao chính khí; mặt khác, tà khí bài xuất ra ngoài là một quá trình chậm rãi, có thể cần vài tháng, cũng có thể cần vài năm.

Vì vậy, chính khí của người bệnh rất quan trọng. Chỉ cần chính khí còn tồn tại thì còn có vốn liếng để đấu tranh với ung bướu. Trên thực tế, có một bộ phận khá lớn người bệnh ung bướu không tử vong do ung bướu hoặc biến chứng do ung bướu gây ra, mà tử vong do chính khí suy kiệt vì phẫu thuật hoặc do công phạt bằng thuốc.
ST

07/07/2026

BÀN VỀ TÍNH VỊ CỦA CÁC LOẠI NHỤC THỊT ĐỘNG VẬT

1. TRƯ NHỤC
Trư nhục thuộc thủy súc, vị mặn, tính hàn, có tác dụng dẫn kinh vào Tạng Phủ.

Về Tâm huyết, có thể làm dẫn dược của thuốc bổ Tâm, lấy ý “lấy Tâm dẫn Tâm, lấy huyết dẫn huyết”. (Diên Thọ Đan Thư nói: heo khi sắp giết thì khí kinh nhập Tâm, khí tuyệt nhập Can, nên không nên ăn nhiều).

Huyết đuôi heo, hòa với Long Não (Băng phiến), trị đậu mùa lõm sụp, có tác dụng phát khởi trở lại. Lý Thời Trân cho rằng lấy ý động mà không dứt, nên cũng có nơi dùng tâm huyết.

Gan heo chủ tàng huyết, dùng trong thuốc bổ huyết, quy Can, có tác dụng minh mục (gan heo đực tốt hơn). Phối Dạ Minh Sa làm hoàn, trị tước mục (chứng quáng gà), do đàm thấp và Can hỏa thịnh gây nên.

Phổi heo có tác dụng bổ Phế, trị ho Phế hư; nếu ho ra máu, chấm bột Ý dĩ mà ăn.

Dạ dày heo quy Vị, có tác dụng kiện Tỳ. Trương Trọng Cảnh trị tiêu khát có phương Hoàng Liên Trư Đỗ Hoàn: dùng dạ dày heo đực một cái, nhồi Hoàng Liên năm lạng, Thiên hoa phấn, Bạch lương mễ mỗi thứ bốn lạng, Tri Mẫu ba lạng, Mạch Môn hai lạng, khâu kín hấp chín, làm hoàn bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống ba mươi viên với nước cơm. Trực Chỉ Phương trị cam nhiệt trẻ em, dùng Hoàng Liên năm lạng nhồi vào gan heo, hấp nhừ, làm hoàn, uống với nước cơm, lại phối thuốc điều huyết thanh Tâm. Sách nói: bệnh trẻ em không cam thì nhiệt, cần phải hiểu rõ điều này.

Thận heo vị mặn, tính lạnh, quy Thận, trị đau lưng, ù tai. Nhật Hoa nói bổ Thủy tạng, ấm lưng gối; lại nói ăn lâu khiến ít con. Mạnh Thuyên cho rằng ăn lâu làm Thận hư; Lý Thời Trân cho là đúng, vì mặn lạnh có thể tả Thận khí. Tuy nhiên có ý kiến phản biện: Câu Kỷ, Huyền Sâm, Tri Mẫu, Hoàng Bá đều hàn mà vẫn bổ Thận, cớ sao Thận heo lại tả Thận nặng như vậy?

Từ xưa đến nay, thuốc bổ lưng Thận dùng Thận heo rất nhiều, chưa từng thấy hại. Phần lớn cấm kỵ ăn uống của chư gia, không thể tin hết. Tỏa Toái Lục chép: dùng một cặp thận heo, thêm đồng tiện và rượu, hầm trong vò, ăn lúc canh năm, trị lao phế, một tháng khỏi.

Kinh Nghiệm Hậu Phương dùng thận heo, lá Câu Kỷ, nước đậu xị, thêm hành, tiêu, muối nấu canh, trị dương nuy gầy yếu.
Ruột heo quy Đại Trường, trị trường phong, huyết lỵ (Kỳ Hiệu Phương có Tạng Liên hoàn).

Mật heo vị đắng, quy Tâm, tính hàn thắng nhiệt, nhuận táo. Tả Can Đởm cam tích, gội đầu làm tóc bóng mượt. Hòa giấm bơm vào hậu môn, trị đại tiện bế tắc. Trọng Cảnh trị chứng Dương Minh, trong không có nhiệt mà đại tiện bí, không dùng công hạ, nên dùng mật heo dẫn ra ngoài, tránh làm tổn thương Vị Phủ. Thành Vô Kỷ nói: Trọng Cảnh trị quyết nghịch vô mạch, dùng Bạch Thông thang gia mật heo, vì dương khí đại hư, âm khí nội thịnh, nếu dùng toàn dương dược thì âm khí sẽ cự tuyệt; thêm mật heo để khổ nhập Tâm thông mạch, hàn bổ Can hòa âm, khiến thuốc không bị chống lại. Đây chính là phép “nhiệt nhân hàn dụng”. Dùng tắm cho trẻ sơ sinh thì trọn đời không lở ghẻ.

Bàng quang heo trị di niệu, thoát vị, dùng làm dẫn kinh.
Mỡ heo vị ngọt, tính hàn, có tác dụng lương huyết nhuận táo, hành thủy tán phong, giải độc, sát trùng, lợi tràng, thông đại tiện, thoái hoàng, hoạt sản. Nấu cao bôi trị các loại mụn nhọt (mỡ tháng Chạp là tốt nhất). Cổ phương dùng rất nhiều, trị ho khan cũng dùng đến.

Chân heo nấu canh thông sữa, thêm Thông Thảo càng hay; dùng rửa loét lở lâu ngày.

Móng treo trị hàn nhiệt, đàm suyễn, đậu mùa nhập mắt, ngũ trĩ, trường ung.

Thịt heo kỵ Hoàng Liên, Ô Mai, Cát Cánh, phạm vào dễ tả lỵ. Lý Thời Trân biện luận rằng phương có Tạng Liên hoàn, Hoàng Liên Trư Đỗ hoàn, cớ sao kỵ thịt mà không kỵ tạng phủ? Biệt Lục nói thịt heo bế huyết mạch, nhược cân cốt, hư người không nên ăn lâu; nhiều thuyết khác đều cho là hại.

Nhưng xét thực tế, người đời ăn thịt hằng ngày, thân thể đầy đặn, con cháu đông, chưa thấy hại như lời nói. Thịt vốn bổ thịt, vị đậm lâu, ăn vào nhuận Trường Vị, sinh tinh dịch, phong phú cơ thể, nhuận da, đó là lẽ tự nhiên. Chỉ khi ăn quá nhiều thì trợ nhiệt sinh đàm, động phong sinh thấp, người bị phong hàn hoặc mới khỏi bệnh cần kiêng. Kiêng trong Thương hàn vì thịt heo bổ cơ cố biểu, béo dính khiến tà phong khó giải; người mới khỏi bệnh kiêng vì Trường Vị khô kiệt, khó chịu đồ béo dày. Người già đàm táo, ho khan lại cần chất béo để tư nhuận, không thể chấp vào thuyết “thịt heo sinh đàm” mà cứng nhắc.

2. CẨU NHỤC
Cẩu nhục là vị thuốc thuộc nhóm bổ hư. Vị chua, mặn, tính ôn (sách ghi "hàn toan nhi hàm ôn", ý chỉ chất thịt thiên về âm nhưng công năng lại ôn bổ), có tác dụng ôn Tỳ ích Vị. Tỳ Vị được ôn ấm thì nguồn sinh hóa khí huyết đầy đủ, từ đó Can Thận cũng được nuôi dưỡng.

Thường dùng điều trị các chứng hư hàn, dương khí suy nhược, giúp trợ dương, ích tinh. Đặc biệt, tác dụng ôn bổ đối với Thận và dương vật được người xưa đánh giá rất cao.

Sách còn cho rằng: Chó lông vàng thiên về bổ Tỳ. Chó lông đen thiên về bổ Thận.

Vị thuốc này kỵ Hạnh nhân, đồng thời không nên dùng chung với tỏi. Đạo gia cho rằng tỏi là "địa yếm", có thể làm giảm tác dụng của thịt chó.

Ngoài ra, máu chó vàng hòa với rượu, uống hai bát, được ghi nhận có thể chữa chứng trường ung (áp-xe đại tràng).

3. DƯƠNG NHỤC
Dương nhục là thịt dê, là vị thuốc thuộc nhóm bổ hư lao. Vị ngọt, tính đại nhiệt, thuộc hành Hỏa, có tác dụng bổ hư lao, ích khí huyết, ôn dương, cường tráng gân cốt, kiện Vị và tăng cường thể lực.

Thường dùng điều trị các chứng cơ thể suy nhược, khí huyết hư tổn, lao lực lâu ngày, dương khí bất túc và ăn uống kém.

Ngoài ra, Dương nhục còn có tác dụng thông đạt khí cơ và thúc đẩy mụn nhọt phát ra ngoài, giúp tà độc dễ bài xuất.

Sách Thương hàn luận của Trương Trọng Cảnh có bài Đương quy dương nhục thang, dùng để điều trị các chứng hư nhược sau sinh và lao tổn.

Sách Thập tễ viết rằng: "Bổ khả khứ nhược, Nhân sâm, Dương nhục chi thuộc dã", nghĩa là phép bổ có thể chữa chứng hư nhược, tiêu biểu là Nhân sâm và thịt dê.

Lý Đông Viên cũng nói: "Nhân sâm bổ khí, Dương nhục bổ hình." Ý nói Nhân sâm thiên về bổ khí, còn thịt dê thiên về bồi bổ hình thể và huyết nhục. Những thực phẩm có tính vị tương tự thịt dê đa số đều có tác dụng bổ huyết hư. Dương khí được phục hồi thì âm huyết cũng theo đó mà sinh trưởng.

DƯƠNG CAN (GAN DÊ)
Vị đắng, tính hàn (Tô Tụng cho rằng tính ôn), màu xanh, ứng với hành Mộc.

Có tác dụng bổ Can và minh mục. Theo y học cổ truyền, Can chủ tàng huyết, khai khiếu ra mắt, mà "Can lấy tả làm bổ", vì vậy gan dê thường được dùng trong các bài thuốc chữa bệnh về mắt.
Bài Dương can hoàn, phối hợp thêm Hoàng liên, là phương thuốc cổ dùng điều trị nhiều chứng mục bệnh.

DƯƠNG ĐỞM (MẬT DÊ)
Vị đắng, tính hàn.

Có tác dụng chữa các chứng mắt chảy nước sống, mắt đỏ, màng mộng trắng và các bệnh về giác mạc.

Sách cổ ghi một phương pháp chế biến: vào tháng Chạp, lấy mật dê hòa với mật ong, đựng trong túi mật rồi bọc giấy, treo dưới mái hiên để hứng sương. Khi xuất hiện lớp kết tinh thì cạo lấy dùng để chấm mắt.

Một cách khác là cho mật ong vào túi mật dê rồi hấp chín, để khô, nghiền thành cao. Mỗi lần ngậm một ít hoặc chấm trực tiếp lên mắt.

Bài thuốc này gọi là Nhị bách vị thảo hoa cao, ý nói dê ăn trăm loại cỏ, ong hút trăm loài hoa, nên tinh hoa của chúng hội tụ lại trong bài thuốc.

Lý Thời Trân cho rằng Can khai khiếu ra mắt, mật dịch suy giảm thì mắt sẽ tối. Mắt là nơi biểu hiện ra ngoài của Can, còn tinh hoa của Đởm cũng tập trung tại đó, vì vậy các loại mật động vật phần nhiều đều có thể dùng chữa bệnh về mắt.

DƯƠNG HĨNH CỐT (XƯƠNG ỐNG CHÂN DÊ)
Quy vào Thận kinh, có tác dụng bổ cốt.

Đem đốt thành tro rồi chà răng có thể làm chắc răng và giảm đau răng.

Lý Thời Trân còn ghi rằng tro xương ống chân dê có thể dùng để mài gương đồng, còn xương đầu dê có khả năng làm tiêu mòn sắt.
Nếu vô tình nuốt phải đồng tiền bằng đồng, có thể lấy ba tiền bột xương ống chân dê, uống với nước cơm để giúp hóa giải dị vật.

4. NGƯU NHỤC
Ngưu nhục (thịt bò) Có công năng bổ Tỳ thổ. Vị ngọt, tính ôn, thuộc hành Thổ.

Có tác dụng an trung, kiện Tỳ, ích khí, chỉ khát. Sách xưa còn ghi lại phương pháp nổi tiếng gọi là "Đảo thương pháp". Dùng hai mươi cân thịt bò đực màu vàng, rửa sạch, nấu nhừ thành cháo đặc, lọc bỏ bã rồi cô đặc thành chất lỏng màu hổ phách.
Đêm trước không ăn uống, đến ngày điều trị ngồi trong phòng kín, lúc bụng rỗng thì uống từng chén nước thịt ấy, uống liên tiếp nhiều lần, có thể đến vài chục chén. Sau đó thân thể cảm thấy đau nhức; nếu tà tích ở thượng tiêu thì nôn ra, ở hạ tiêu thì đi lỏng, ở trung tiêu thì vừa nôn vừa tiêu chảy. Sau khi đại tiện tất sẽ khát nước, lúc ấy uống vài bát nước tiểu của chính mình để rửa sạch những cặn bẩn còn sót.

Khi bắt đầu thấy đói và mệt thì cho uống nước gạo loãng, hai ngày sau ăn cháo nhạt, tiếp đến cháo đặc và cơm mềm. Điều dưỡng khoảng một tháng thì những bệnh trầm kha cũng có thể khỏi. Tuy nhiên phải kiêng phòng sự nửa năm và kiêng ăn thịt bò trong năm năm.

Đan Khê nói rằng: "Con bò ứng với quẻ Khôn, thuộc Thổ, sắc vàng ở trung cung, cho nên thịt bò là thuốc của Tỳ Vị. Nước thịt là vật vô hình. Những chứng tích tụ lâu ngày nằm sâu trong những khúc quanh của trường vị, há có các loại hoàn, tán chỉ tính bằng từng phân từng ly mà có thể đến được sao? Nước thịt tràn đầy, lưu hành khắp nơi, không chỗ nào không tới, giống như nước lũ dâng cao, mọi thứ ngưng trệ đều thuận dòng mà bị cuốn đi".

Phương pháp này vốn truyền từ một dị nhân Tây Vực. Người trung niên nếu thực hiện một hai lần cũng có thể giúp trừ bệnh và dưỡng thọ.

Vương Luân nhận xét: "Thịt bò vốn là thuốc bổ trung, không phải thuốc gây nôn hay tả hạ. Mượn phép bổ để tả, nhân phép tả mà thành bổ, quả là một kỳ phương."

Đan Khê từng chữa cho Lâm Đức Phương bị ho ra máu kéo dài. Bệnh Phế bị uất tắc thì không nôn không được, nhưng huyết hư lại cần phải bổ; duy chỉ Đảo thương pháp là kiêm được cả hai mặt công và bổ, dùng xong thì khỏi bệnh. Lại có người tên Tiêu Bá Thiện mắc chứng tiểu đục, hoạt tinh, cũng dùng Đảo thương pháp mà khỏi.

Lại có Hứa Văn Ý Công bị đau tim nhiều năm, dùng thuốc táo nhiệt, linh đan, cứu ngải đủ cách mà không hiệu quả, tự cho mình là người bỏ đi. Đan Khê trước hết dùng Phòng phong thông thánh tán để công hạ tích trệ, bệnh có phần thuyên giảm và bắt đầu muốn ăn. Nhưng hai chân vẫn khó cử động, sang năm tiếp tục dùng Đảo thương pháp thì mọi việc đều ứng nghiệm, sau đó còn sinh được con và sống thêm mười bốn năm.

Lại có người anh em họ Lâm ở Lâm Hải ho lâu ngày, khạc máu, phát nhiệt, gầy sút, mọi người đều cho là chứng lao, trăm phương không hiệu nghiệm. Đan Khê bắt mạch thấy cả hai tay đều huyền sác, ban ngày nhẹ, ban đêm nặng, nhất thời không còn kế sách. Khi ấy là mùa đông, bèn dùng Đảo thương pháp, bệnh liền yên, năm sau còn sinh được con.

NGƯU NHŨ (SỮA BÒ)
Vị ngọt, tính hơi hàn. Có tác dụng nhuận Trường Vị, giải nhiệt độc, bổ hư lao, chủ trị chứng phản vị và ế cách.

Sách giải thích rằng: Vị khô kiệt hoặc Vị hàn, Tỳ mất chức năng vận hóa thức ăn, khiến khí nghịch đi lên mà thành phản vị. Gốc của bệnh là khí huyết bất túc, còn đàm ẩm và thực tích chỉ là ngọn. Vị khô thì nên tư âm sinh tân, Vị lạnh thì nên ôn trung điều khí.
Đông Viên nói: Nôn do thượng tiêu là vì khí nghịch, phép trị ở chỗ hòa trung và giáng khí. Nôn do trung tiêu là vì tích trệ, phép trị là hành khí tiêu tích. Nôn do hạ tiêu là vì hàn, phép trị là ôn trung tán hàn.

Đan Khê nói: "Chứng phản vị, ế cách mà đại tiện táo kết, nên thường xuyên từ từ nuốt sữa bò hoặc sữa dê, đồng thời dùng thêm Tứ Vật Thang là thượng sách. Không nên dùng sữa người, vì sữa người mang độc của ngũ vị thức ăn và hỏa của thất tình."
Tác giả Bình Ngang lại chú rằng: "Chứng ế cách bế tắc, nếu dùng thuốc thơm táo để cầu dễ chịu nhất thời thì chỉ làm tổn khí và táo huyết, tức là thúc đẩy cái chết đến nhanh hơn. Thà ít dùng thuốc mà uống sữa bò pha thêm nước hẹ, hoặc nước gừng, hoặc một ít rượu cũ thì tốt hơn."

Quan Án sát ở vùng Giang Nam thường mắc chứng cấm khẩu lỵ, không nuốt nổi một hạt cơm. Trịnh Điện Nhất cho dùng sữa bò, uống lâu ngày rồi cũng khỏi.

HỌNG TRÂU TRẮNG (BẠCH THỦY NGƯU HẦU)
Có công dụng trị chứng phản vị nôn ra thức ăn, ruột kết táo bón không thông. Cách dùng là bỏ hai đầu, loại bỏ lớp mỡ và màng, ngâm giấm rồi sao khô tán bột, mỗi lần uống hai tiền với nước cơm cũ.

Tô, lạc, đề hồ, hồ đều là các chế phẩm từ sữa bò hoặc sữa dê, có tính tư nhuận, hoạt trạch, rất thích hợp cho những người huyết nhiệt mà tân dịch khô kiệt.

Ngưu đởm (mật bò), cho vôi sống vào trong túi mật rồi treo nơi thoáng gió đủ một trăm ngày, dùng chữa các loại kim sang (vết thương do dao kiếm, vật sắc nhọn) rất hiệu nghiệm.
ST

07/07/2026

THẬN ĐA NANG

1. Khái quát

Thận đa nang là một loại bệnh di truyền đơn gen mà hai bên thận phát sinh nhiều nang thũng, nang thũng to lên mang tính tiến triển, dẫn đến tổn hại cấu trúc và chức năng thận. Do hình thức di truyền khác nhau, độ tuổi xuất hiện triệu chứng và tiên lượng cũng khác nhau, trên lâm sàng chia bệnh này thành thể trẻ sơ sinh và thể người lớn. Chương này chủ yếu thảo luận về thận đa nang thể người lớn.
Bệnh này thuộc phạm trù “Tích tụ” của Y học cổ truyền. Phần nhiều do chính khí suy hư, tạng phủ thất hòa, khí huyết ngưng tụ, đàm trọc uẩn tích trong bụng mà gây nên.

2. Chẩn đoán

1. Có tiền sử bệnh di truyền trong gia tộc, đa số phát bệnh trong khoảng 30-50 tuổi.
2. Siêu âm B hoặc CT kiểm tra cho thấy hai thận to lên, trong thực chất thận phân bố nhiều nang dịch lớn nhỏ không đều.
3. Triệu chứng thường gặp biểu hiện là đau vùng thắt lưng và bụng, huyết niệu, protein niệu, tổn hại chức năng thận và nang ngoài thận v.v.
4. Phân tích đa hình chiều dài đoạn cắt hạn chế (RFLP) gen ADPKD cho kết quả thực nghiệm dương tính.

3. Biện chứng luận trị

1. Chứng ứ huyết nội kết

Chủ chứng: đau vùng thắt lưng-bụng, bụng dần phình to, khối bụng như bướu, cao thấp không đều, ấn vào đau trướng; hoặc ngực-ức-bụng trướng, khó nằm ngửa hoặc nằm sấp; hình thể gầy sút, mặt và mắt phù hư; chất lưỡi tím nhạt, hoặc có điểm ứ tím, mạch sáp trệ.

Trị pháp: hoạt huyết hóa ứ, nhuyễn kiên tán kết.

Phương tễ: Miết giáp tiễn hoàn gia giảm.
Miết giáp 15g, Đảng sâm 30g, Thục Địa hoàng 30g, Manh trùng 15g, Đào nhân 15g, Hồng hoa 10g, Xích thược 15g, Đan sâm 30g, Tam lăng 15g, Nga truật 15g, Sài hồ 10g, Hương phụ 10g, Xa tiền tử 30g, Đại hoàng 10g, Phong phòng 10g, Quế chi 10g.
Gia giảm: trong thời gian uống thuốc, có thể ngắt quãng; cũng có thể hoàn tán hóa, hoặc xen uống Bát trân thang hay Thập toàn đại bổ hoàn v.v để điều hòa hư thực; nếu sắc mặt sạm đen, tiểu phúc trướng đau, tiểu tiện không lợi, hoặc huyết niệu có kèm cục tím đen, có thể uống Đại hoàng Manh trùng hoàn để khử ứ sinh tân, công trục ứ huyết.

2. Chứng hàn thấp ngưng tụ, ứ huyết trở trệ

Chủ chứng: thắt lưng mỏi đau hoặc bế trệ khó chịu, hoặc đau lạnh nặng; ngực-ức-bụng trướng, ăn kém; hoặc sau ăn bụng trướng, sắc mặt úa vàng, đại tiện lúc mềm lúc nhão, tiểu tiện không lợi, chi dưới phù thũng, chất lưỡi tối, rêu trắng nhờn, mạch trầm tế sáp.

Trị pháp: ôn dương hóa thấp, tiêu ứ tán tích.

Phương tễ: Quế chi Phục linh hoàn hợp Phục linh Bạch truật Can khương Cam thảo thang gia giảm. Quế chi 12g, Phục linh 15g, Bạch truật 12g, Đào nhân 12g, Xuyên khung 12g, Bạch thược 15g, Can khương 10g, Tam lăng 12g, Nga truật 12g, Hương phụ 10g.
Gia giảm: nếu Tỳ hư nạp giảm, đại tiện nhão thì gia Sơn dược, Liên tử nhục, Đảng sâm; nếu Tỳ hư khí trệ, bụng đầy trướng rõ thì hợp Hậu phác Sinh khương Bán hạ Cam thảo Nhân sâm thang; nếu lưng mỏi lạnh đau thì gia Phụ tử, Ba kích thiên.

3. Chứng chính khí suy bại, đàm trọc nội trở

Chủ chứng: tinh thần uể oải, sắc mặt xám tối, bụng to như trống, thắt lưng-bụng trướng đầy, khối bụng cứng chắc; hoặc kèm buồn nôn, nôn ọe, tiểu tiện ít và bế, thần hôn nói sảng v.v; chức năng thận ngày càng xấu. Chất lưỡi nhạt tối tím, rêu lưỡi nhờn, mạch tế huyền hoặc trầm nhược.

Trị pháp: phù chính giáng trọc, hóa ứ tán tích.

Phương tễ: Thận khí hoàn hợp Hạ ứ huyết thang gia giảm.
Thục Địa hoàng 15g, Sơn dược 15g, Sơn thù du 12g, Phục linh 15g, Trạch tả 12g, Bạch truật 12g, Quế chi 10g, Chế Phụ tử 6g, Chế Đại hoàng 12g, Đào nhân 10g, Manh trùng 15g, Hoàng kỳ 15g, Đan sâm 20g.

Gia giảm: nếu nạp cốc không thơm, bụng đầy bĩ trướng thì gia Chỉ xác, Hương duyên bì; buồn nôn, nôn ọe thì hợp Nhị trần thang; mặt phù, chân sưng, tiểu tiện giảm ít thì gia Đại phúc bì, Hồ lô ba.

4. Kinh nghiệm danh y

Đỗ Vũ Mậu dùng Quế chi Phục linh hoàn gia vị hành khí hoạt huyết, nhuyễn kiên tán kết, chủ trị đa nang thận; chứng thấy vùng thắt lưng đôi khi mỏi trướng khó chịu, hoặc hầu như không có tự giác triệu chứng; qua siêu âm B, CT hoặc cộng hưởng từ phát hiện thận có khối u nang tính; xét nghiệm nước tiểu thường quy đa phần bình thường hoặc chỉ có hồng cầu vi lượng và protein; mạch tượng, rêu lưỡi không có bất thường rõ. Dược vật cấu thành: Quế chi 10g, Phục linh 15g, Đào nhân 10g, Mẫu đơn bì 10g, Xích thược 10g, Hồng hoa 10g, Chích Cam thảo 5g, Nga truật 12g, Tam lăng 12g, Xuyên ngưu tất 12g, Đương quy 12g, Xuyên khung 10g, Chế Hương phụ 12g, Sài hồ 10g.

Gia giảm: nếu người bệnh vốn thể khí hư thì có thể gia Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật; nếu tố thể âm hư thì có thể gia thêm Sinh Địa hoàng, Bạch thược, Địa cốt bì, Mạch môn, Ngũ vị tử.

Lâm sàng Trung y quan sát vĩ mô, kết hợp kiểm tra lý hóa vi mô của Tây y, phát hiện thận có khối tích, Trung y học cho rằng loại khối tích này giai đoạn sớm là khí trệ huyết ứ, do khí huyết ngưng tụ mà thành. Trong tình huống lao lực quá độ hoặc mắc bệnh khác làm tổn thương chính khí, hoặc kiêm hiệp đàm thấp, tà nhiệt v.v, bệnh tình tương đối ổn định, tiến triển chậm, cần sớm can thiệp trị liệu. Phương dùng Quế chi Phục linh hoàn trong “Kim quỹ yếu lược” làm chủ, hoạt huyết hóa ứ; tăng Nga truật, Tam lăng công kiên tiêu tích; Xuyên ngưu tất nhập Thận hành ứ, dẫn thuốc thẳng đến nơi bệnh, hành ứ mà không quên bổ hộ chính. Xuyên luyện tử, Hương phụ, Sài hồ sơ Can hành khí tán kết, lại có thể đạt huyết phận, giúp trục ứ tiêu tích. Toàn Đương quy dưỡng huyết hoạt huyết, vừa phù chính vừa khứ tà, tiêu bản kiêm cố. Tổng quan toàn phương lấy hành ứ tiêu tích khối làm chủ, lấy bổ Thận dưỡng huyết hộ chính làm phụ, phòng trong quá trình trục tà tiêu tích lại tổn thương chính khí; phối ngũ nghiêm cẩn, chủ thứ phân minh, kiên trì dùng lâu, hiệu quả đáng tin cậy.
ST

07/07/2026

Thăng Hãm Thang - Trị chứng Thở Khó
Trị Đại khí trong ngực hạ hãm, khí đoản không đủ để thở. Hoặc gắng sức hô hấp, có vẻ như suyễn. Hoặc hơi thở sắp ngừng, nguy trong khoảnh khắc. Các kiêm chứng của bệnh này, hoặc hàn nhiệt vãng lai, hoặc họng khô khát nước, hoặc đầy tức, chính xung, hoặc thần hôn hay quên, các loại bệnh trạng quả thật khó kể hết. Mạch tượng trầm trì vi nhược, phần trước Quan càng rõ. Trường hợp nặng, hoặc sáu bộ mạch không đầy đủ, hoặc Tam bộ, Ngũ chí không điều hòa.
Gồm: Sinh Tiễn kỳ 6 tiền. Tri mẫu 3 tiền. Sài hồ 1 tiền 5 phân. Cát cánh 1 tiền 5 phân. Thăng ma 1 tiền.
Người khí phận hư cực mà hạ hãm, tùy chứng gia Nhân sâm vài tiền, hoặc gia thêm Sơn thù nhục bỏ sạch hạt vài tiền, nhằm thu liễm sự hao tán của khí phận, khiến khí đã thăng không đến nỗi lại hãm xuống. Nếu Đại khí hạ hãm quá nặng, đến mức thiếu phúc sa trệ xuống, hoặc còn đau, nên đổi Thăng ma dùng 1 tiền rưỡi, hoặc tăng gấp đôi thành 2 tiền.
Thăng Hãm Thang lấy Hoàng kỳ làm chủ dược, vì Hoàng kỳ vừa giỏi bổ khí, lại giỏi thăng khí. Chỉ vì tính của nó hơi nhiệt, nên dùng tính lương nhuận của Tri mẫu để hỗ trợ điều hòa. Sài hồ là thuốc của Thiếu dương, có thể dẫn Đại khí bị hãm từ bên trái thăng lên. Thăng ma là thuốc của Dương minh, có thể dẫn Đại khí bị hãm từ bên phải thăng lên. Cát cánh là “thuyền bè” trong các vị thuốc, có thể chở sức thuốc đi lên đạt đến trong ngực, vì vậy dùng làm hướng đạo. Đến người khí phận hư cực thì tùy chứng gia Nhân sâm, là để bồi dưỡng gốc của khí phận. Hoặc gia thêm Sơn thù nhục là để phòng khí bị tán hoán. Còn như thiếu phúc sa trệ xuống, hoặc còn đau, đó là Đại khí của người ấy hạ hãm thẳng đến Cửu uyên, tất cần đại lực của Thăng ma để thăng đề, nên lại gia thêm Thăng ma 5 phân hoặc tăng gấp đôi thành 2 tiền. Dụng ý trong phương là như vậy; còn tùy thời linh hoạt gia giảm thì đặc biệt ở chỗ người lâm chứng khéo biến thông.
Bình luận: Trên đây bàn về chủ chứng và hoặc nhiên chứng của Đại khí trong ngực hạ hãm do Thăng Hãm Thang chủ trị, thành phần phương dược và phép gia vị của Thăng Hãm Thang, cũng như phương giải của Thăng Hãm Thang.
Đại khí là khí sung mãn trong ngực, có chức năng chủ quản sự hô hấp của Phế. Một thân con người, từ Phi môn cho đến Phách môn, đều do một khí làm chủ. Song khí này có nơi phát sinh, có nơi bồi dưỡng, có nơi tích trữ. Thiên nhất sinh thủy, Thận tạng hình thành trước, mà trong hệ Thận Mệnh môn có khí tức manh động, đây chính là khí Càn nguyên tư thủy, tức điều Nội Kinh gọi là thiếu hỏa sinh khí. Khí này đã phát sinh từ lúc còn nhỏ, rồi từ từ đi lên. Được bồi dưỡng bởi khí thủy cốc của hậu thiên, thế khí mới hình thành bàng bạc. Lại được tích chứa nơi phủ khoáng đạt trong chiên hung, căn khí mới vững chắc. Do đó, Đại khí vốn lấy Nguyên khí làm căn bản, lấy khí thủy cốc làm nguồn nuôi dưỡng, lấy vùng trong ngực làm chỗ cư trú. Cùng là khí, nhưng khí đến trong ngực lại được riêng gọi là Đại khí, vì nó có thể chống đỡ toàn thân, như cương lĩnh của các khí, bao bọc bên ngoài Phế và là then chốt của hô hấp, nên trịnh trọng gọi là Đại khí. Đại khí là nội khí. Khí hô hấp là ngoại khí. Người cảm thấy khí hô hấp và nội khí không tiếp nối nhau, tức là Đại khí hư mà muốn hãm xuống, không thể bao bọc chặt chẽ bên ngoài Phế.
Thầy thuốc không biết bệnh, còn cho là khí uất không thư sướng mà dùng thuốc khai thông. Trường hợp nặng, hô hấp sắp ngừng, phải gắng sức mới có thể thở, lại cho là khí nghịch làm suyễn mà dùng thuốc giáng xuống. Như vậy khí hãm càng thêm hãm, nguy hiểm lập tức thấy rõ. Khi bệnh thỉnh thoảng phát hàn nhiệt, là vì Đại khí trong ngực tức Dương khí Thượng tiêu; khi nó hạ hãm, không phải chỉ hạ hãm, cũng không phải hãm một lần rồi không thăng nữa. Khi bên trong lồng ngực, Dương khí uất mà không sướng thì phát hàn; sau khi đã hãm, Dương khí phấn động muốn tuyên thông thì phát nhiệt. Đến khi Dương khí phấn động đến cực độ mà thông, vẫn được chút ít thượng đạt, thì lại ra mồ hôi nhẹ mà nhiệt giải. Họng khô là do tân dịch không thể theo khí mà dâng lên. Đầy tức là do hô hấp không lợi mà tự cảm thấy đầy tức. Chính xung là do Tâm ở trên cách, vốn treo trong Đại khí; Đại khí đã hãm thì Tâm không còn chỗ nương tựa. Thần hôn hay quên là do Đại khí hạ hãm, không thể đi lên đạt tới não, khiến não tủy thần kinh không có chỗ nương tựa.
Chứng này phần nhiều do sức nhỏ mà gánh việc nặng, hoặc lao lực quá độ, hoặc sau bệnh khí lực chưa hồi phục mà gắng sức đi lại quá mức, hoặc do tiết tả lâu ngày, hoặc uống thuốc phá khí quá nhiều, hoặc khí phận hư cực tự hạ hãm; các loại bệnh nhân không giống nhau. Mạch tượng Vi Tế Trì Nhược và đoản khí trong ngực của chứng này quả thật tương tự hàn ẩm kết hung. Song chẩn mạch thấy dường như thực, hỏi bệnh nhân quả là sợ hàn lương, lại cảm thấy đoản khí, đó là hàn ẩm kết hung; chẩn mạch thấy dường như hàn lương, hỏi bệnh nhân thì không sợ hàn lương, chỉ cảm thấy đoản khí, đó là Đại khí hạ hãm. Hơn nữa, ngay xét về đoản khí, đoản khí của Đại khí hạ hãm và đoản khí của hàn ẩm kết hung cũng tự có chỗ phân biệt: đoản khí do hàn ẩm kết hung dường như cảm thấy có vật đè nén; đoản khí do Đại khí hạ hãm thường cảm thấy khí trên và khí dưới không tiếp nối nhau. Người lâm chứng nên xét kỹ điều này. Hàn ẩm kết hung xem chi tiết dưới Lý Ẩm Thang.
Bình luận: Đoạn luận lớn này có ba ý: trước hết bàn về căn bản sinh thành, sự bồi dưỡng và sự tích trữ của Đại khí, tức Nguyên khí trong Thận là căn bản của nó, tinh khí thủy cốc của Tỳ Vị là nguồn bồi dưỡng của nó, trong ngực là nơi tích trữ của nó. Tiếp đó phân tích cụ thể các chứng hậu do Đại khí hạ hãm gây ra. Cuối cùng chỉ ra bệnh nhân của Đại khí hạ hãm, cũng như sự phân biệt giữa chứng tương tự với Đại khí hạ hãm là hàn ẩm kết hung.
Phế chủ hô hấp, điều này ai cũng biết. Nhưng nói rằng sở dĩ Phế có thể hô hấp là thực nhờ Đại khí trong ngực, thì không chỉ người không hành nghề y không biết, mà ngay cả trong giới y gia người biết cũng ít, sách phương cũng hiếm khi nói đến. Vì vậy khi tôi mới học y, cũng chưa biết có khí này. Đến khi lâm chứng, tôi cẩn thận thể nghiệm, mới xác thực biết rằng ngoài sự hô hấp của Phế, còn có một loại khí riêng tích trữ trong ngực, để chủ quản hô hấp của Phế tạng. Mà khí này còn có thể chống đỡ toàn thân, chấn tác tinh thần, cùng với tâm tư, não lực, các động tác tự chủ, không gì không nhờ vào khí này. Khí này một khi hư, hô hấp liền cảm thấy bất lợi, hơn nữa chi thể mỏi nhừ uể oải, tinh thần hôn trầm, não lực và tâm tư theo đó giảm sút rõ rệt. Nếu khí ấy vừa hư lại vừa hãm, hoặc hạ hãm quá nặng, người ấy liền hô hấp đột ngột ngừng lại, hôn mê không biết gì. Tôi đã thực nghiệm biết trong ngực có loại căn khí này, có quan hệ hết sức thiết yếu với toàn thân, nhưng vẫn chưa biết khí này nên gọi là khí gì.
Xem qua các sách phương cũng không có chỗ khảo chứng. Chỉ trong thiên Thủy khí của Kim Quỹ, dưới Quế chi gia Hoàng kỳ thang, có câu “Đại khí nhất chuyển, kỳ khí nãi tán”. Sau lại thấy Dụ Gia Ngôn trong Y môn pháp luật nói: “Ngũ tạng lục phủ, đại kinh tiểu lạc, ngày đêm tuần hoàn không ngừng, tất nhờ Đại khí trong ngực vận chuyển ở giữa”. Từ đó mới biết khí tích tụ trong ngực nên gọi là Đại khí.
Bình luận: Câu “Đại khí nhất chuyển, kỳ khí nãi tán” mà Trương Tích Thuần dẫn lại, câu trước đó là “Âm Dương tương đắc, kỳ khí nãi hành”, vốn chép ở điều 30, thiên “Thủy khí bệnh” trong Kim Quỹ Yếu Lược. Đối với nhận thức về Đại khí, các y gia đời sau có kiến giải không thống nhất: có người giải thích là Tông khí, có người giải thích là Nguyên khí. Truy nguyên khảo cứu thì trong thiên Nhiệt luận của Tố Vấn và thiên Ngũ vị của Linh Khu kinh đều có luận thuật về Đại khí.
Dụ Gia Ngôn trong Y môn pháp luật, quyển một, Minh hung trung Đại khí chi pháp đã soạn riêng thiên Đại khí luận, trích lục như sau: “Khí trời chỉ là khí, hình đất chỉ là hình, khí của con người dùng để thành hình. Chỉ nhờ khí mà thành hình, khí tụ thì hình tồn tại, khí tán thì hình mất đi. Sự liên hệ của khí đối với hình há chẳng lớn lao sao? Tuy nhiên trong thân hình lại có Doanh khí, có Vệ khí, có Tông khí, có khí của tạng phủ, có khí của kinh lạc, mỗi loại đều có phân biệt. Sở dĩ thống lĩnh Doanh vệ, tạng phủ, kinh lạc, khiến chúng chu lưu đầy đủ không gián đoạn, vận hành quanh vòng không ngừng, toàn thân các tiết đều linh hoạt, tất cả đều nhờ Đại khí trong ngực làm chủ trì. …… Hoặc nói Đại khí tức là khí ở Đản trung…… hoặc nói Đại khí tức là tên khác của Tông khí. Tông là tôn quý, là chủ; mười hai mạch phụng nó làm tôn chủ”. …… Đồng thời chỉ rõ bệnh cơ của nó là: “Đại khí một khi suy thì xuất nhập phế bỏ, thăng giáng ngưng dứt, thần cơ hóa diệt, khí lập tức cô nguy. Như vậy sao có thể được?”
Người viết lĩnh hội tư tưởng trung tâm trong Đại khí luận của họ Dụ là: Tâm Phế cư ở trong ngực, cái gọi là “Đại khí trong ngực” tức là khí của Tâm Phế. Điều Tâm và Phế làm chủ: Phế chủ khí toàn thân, Tâm chủ huyết toàn thân; khí là soái của huyết, huyết là mẹ của khí; khí và huyết như bóng theo hình, “những gì con người có là huyết và khí mà thôi” (Tố Vấn – Điều kinh luận). Vì vậy, cái gọi là “Âm Dương tương đắc” tức là huyết khí tương đắc, cũng tức là Doanh vệ tương đắc. Chữ “khí” trong câu “kỳ khí nãi hành” chính là nói theo huyết. Câu “Đại khí nhất chuyển, kỳ khí nãi tán” ở văn sau là nói về trị tắc đối với bệnh biến của huyết khí.
Bốn, năm đoạn sau trong phần này, Trương Tích Thuần nghiên cứu sâu luận thuật của Nội Kinh về Đại khí, ở đây lược bỏ.
Tôi trộm thấy chứng Đại khí hạ hãm thường bị thầy thuốc điều trị sai. Vì có một phương Thăng Hãm Thang, lại có hai phương Hồi dương Thăng Hãm Thang và Lý uất Thăng Hãm Thang, đều do gia giảm từ Thăng Hãm Thang mà thành. Sau ba phương Thăng Hãm Thang này có phụ lục các y án đã trị khỏi.
Hiện trạng bệnh của các y án ấy gồm: có người hô hấp đoản khí, có người trong tâm chính xung, có người đại hãn lâm ly, có người thần hôn hay quên, có người sau sinh phát điên thân thể lay động, có người hàn nhiệt vãng lai, có người trong ngực đầy tức, ngột ngạt (đây là do hô hấp không lợi mà tự cảm thấy đầy tức; nếu trị như chứng đầy tức thì lập tức nguy), có người gắng sức hô hấp giống như suyễn (loại trạng thái này rất nhiều, là hô hấp của Phế sắp ngừng, phải gắng sức hô hấp để tự cứu; nếu trị như suyễn thì lập tức nguy), có người họng khô khát nước, có người thường xuyên ngáp, có người chi thể nuy phế, có người sau ăn dễ đói, có người nhị tiện không cầm được, có người bí tiểu, thiếu phúc sa trướng, có người há miệng thở khí ra ngoài mà khí không thể thượng đạt, hậu môn lồi ra; ở phụ nữ có người huyết ra không dứt, lại còn có người kinh thủy nghịch hành (chứng do khí nghịch thì nhiều; nếu do khí hãm khiến kinh thủy nghịch hành thì từng gặp hai người, đều cho uống Thăng Hãm Thang mà khỏi), các loại bệnh trạng đầu mối rất nhiều, những trường hợp khác cũng không thể ghi hết. Các y án trị khỏi Đại khí hạ hãm lược đăng vài trường hợp dưới đây để tiện khảo chứng.
St by Thien y quan

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Hung Yen?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address


Vinhomes Ocean Park 2
Hung Yen
17660