07/07/2026
BÀN VỀ TÍNH VỊ CỦA CÁC LOẠI NHỤC THỊT ĐỘNG VẬT
1. TRƯ NHỤC
Trư nhục thuộc thủy súc, vị mặn, tính hàn, có tác dụng dẫn kinh vào Tạng Phủ.
Về Tâm huyết, có thể làm dẫn dược của thuốc bổ Tâm, lấy ý “lấy Tâm dẫn Tâm, lấy huyết dẫn huyết”. (Diên Thọ Đan Thư nói: heo khi sắp giết thì khí kinh nhập Tâm, khí tuyệt nhập Can, nên không nên ăn nhiều).
Huyết đuôi heo, hòa với Long Não (Băng phiến), trị đậu mùa lõm sụp, có tác dụng phát khởi trở lại. Lý Thời Trân cho rằng lấy ý động mà không dứt, nên cũng có nơi dùng tâm huyết.
Gan heo chủ tàng huyết, dùng trong thuốc bổ huyết, quy Can, có tác dụng minh mục (gan heo đực tốt hơn). Phối Dạ Minh Sa làm hoàn, trị tước mục (chứng quáng gà), do đàm thấp và Can hỏa thịnh gây nên.
Phổi heo có tác dụng bổ Phế, trị ho Phế hư; nếu ho ra máu, chấm bột Ý dĩ mà ăn.
Dạ dày heo quy Vị, có tác dụng kiện Tỳ. Trương Trọng Cảnh trị tiêu khát có phương Hoàng Liên Trư Đỗ Hoàn: dùng dạ dày heo đực một cái, nhồi Hoàng Liên năm lạng, Thiên hoa phấn, Bạch lương mễ mỗi thứ bốn lạng, Tri Mẫu ba lạng, Mạch Môn hai lạng, khâu kín hấp chín, làm hoàn bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống ba mươi viên với nước cơm. Trực Chỉ Phương trị cam nhiệt trẻ em, dùng Hoàng Liên năm lạng nhồi vào gan heo, hấp nhừ, làm hoàn, uống với nước cơm, lại phối thuốc điều huyết thanh Tâm. Sách nói: bệnh trẻ em không cam thì nhiệt, cần phải hiểu rõ điều này.
Thận heo vị mặn, tính lạnh, quy Thận, trị đau lưng, ù tai. Nhật Hoa nói bổ Thủy tạng, ấm lưng gối; lại nói ăn lâu khiến ít con. Mạnh Thuyên cho rằng ăn lâu làm Thận hư; Lý Thời Trân cho là đúng, vì mặn lạnh có thể tả Thận khí. Tuy nhiên có ý kiến phản biện: Câu Kỷ, Huyền Sâm, Tri Mẫu, Hoàng Bá đều hàn mà vẫn bổ Thận, cớ sao Thận heo lại tả Thận nặng như vậy?
Từ xưa đến nay, thuốc bổ lưng Thận dùng Thận heo rất nhiều, chưa từng thấy hại. Phần lớn cấm kỵ ăn uống của chư gia, không thể tin hết. Tỏa Toái Lục chép: dùng một cặp thận heo, thêm đồng tiện và rượu, hầm trong vò, ăn lúc canh năm, trị lao phế, một tháng khỏi.
Kinh Nghiệm Hậu Phương dùng thận heo, lá Câu Kỷ, nước đậu xị, thêm hành, tiêu, muối nấu canh, trị dương nuy gầy yếu.
Ruột heo quy Đại Trường, trị trường phong, huyết lỵ (Kỳ Hiệu Phương có Tạng Liên hoàn).
Mật heo vị đắng, quy Tâm, tính hàn thắng nhiệt, nhuận táo. Tả Can Đởm cam tích, gội đầu làm tóc bóng mượt. Hòa giấm bơm vào hậu môn, trị đại tiện bế tắc. Trọng Cảnh trị chứng Dương Minh, trong không có nhiệt mà đại tiện bí, không dùng công hạ, nên dùng mật heo dẫn ra ngoài, tránh làm tổn thương Vị Phủ. Thành Vô Kỷ nói: Trọng Cảnh trị quyết nghịch vô mạch, dùng Bạch Thông thang gia mật heo, vì dương khí đại hư, âm khí nội thịnh, nếu dùng toàn dương dược thì âm khí sẽ cự tuyệt; thêm mật heo để khổ nhập Tâm thông mạch, hàn bổ Can hòa âm, khiến thuốc không bị chống lại. Đây chính là phép “nhiệt nhân hàn dụng”. Dùng tắm cho trẻ sơ sinh thì trọn đời không lở ghẻ.
Bàng quang heo trị di niệu, thoát vị, dùng làm dẫn kinh.
Mỡ heo vị ngọt, tính hàn, có tác dụng lương huyết nhuận táo, hành thủy tán phong, giải độc, sát trùng, lợi tràng, thông đại tiện, thoái hoàng, hoạt sản. Nấu cao bôi trị các loại mụn nhọt (mỡ tháng Chạp là tốt nhất). Cổ phương dùng rất nhiều, trị ho khan cũng dùng đến.
Chân heo nấu canh thông sữa, thêm Thông Thảo càng hay; dùng rửa loét lở lâu ngày.
Móng treo trị hàn nhiệt, đàm suyễn, đậu mùa nhập mắt, ngũ trĩ, trường ung.
Thịt heo kỵ Hoàng Liên, Ô Mai, Cát Cánh, phạm vào dễ tả lỵ. Lý Thời Trân biện luận rằng phương có Tạng Liên hoàn, Hoàng Liên Trư Đỗ hoàn, cớ sao kỵ thịt mà không kỵ tạng phủ? Biệt Lục nói thịt heo bế huyết mạch, nhược cân cốt, hư người không nên ăn lâu; nhiều thuyết khác đều cho là hại.
Nhưng xét thực tế, người đời ăn thịt hằng ngày, thân thể đầy đặn, con cháu đông, chưa thấy hại như lời nói. Thịt vốn bổ thịt, vị đậm lâu, ăn vào nhuận Trường Vị, sinh tinh dịch, phong phú cơ thể, nhuận da, đó là lẽ tự nhiên. Chỉ khi ăn quá nhiều thì trợ nhiệt sinh đàm, động phong sinh thấp, người bị phong hàn hoặc mới khỏi bệnh cần kiêng. Kiêng trong Thương hàn vì thịt heo bổ cơ cố biểu, béo dính khiến tà phong khó giải; người mới khỏi bệnh kiêng vì Trường Vị khô kiệt, khó chịu đồ béo dày. Người già đàm táo, ho khan lại cần chất béo để tư nhuận, không thể chấp vào thuyết “thịt heo sinh đàm” mà cứng nhắc.
2. CẨU NHỤC
Cẩu nhục là vị thuốc thuộc nhóm bổ hư. Vị chua, mặn, tính ôn (sách ghi "hàn toan nhi hàm ôn", ý chỉ chất thịt thiên về âm nhưng công năng lại ôn bổ), có tác dụng ôn Tỳ ích Vị. Tỳ Vị được ôn ấm thì nguồn sinh hóa khí huyết đầy đủ, từ đó Can Thận cũng được nuôi dưỡng.
Thường dùng điều trị các chứng hư hàn, dương khí suy nhược, giúp trợ dương, ích tinh. Đặc biệt, tác dụng ôn bổ đối với Thận và dương vật được người xưa đánh giá rất cao.
Sách còn cho rằng: Chó lông vàng thiên về bổ Tỳ. Chó lông đen thiên về bổ Thận.
Vị thuốc này kỵ Hạnh nhân, đồng thời không nên dùng chung với tỏi. Đạo gia cho rằng tỏi là "địa yếm", có thể làm giảm tác dụng của thịt chó.
Ngoài ra, máu chó vàng hòa với rượu, uống hai bát, được ghi nhận có thể chữa chứng trường ung (áp-xe đại tràng).
3. DƯƠNG NHỤC
Dương nhục là thịt dê, là vị thuốc thuộc nhóm bổ hư lao. Vị ngọt, tính đại nhiệt, thuộc hành Hỏa, có tác dụng bổ hư lao, ích khí huyết, ôn dương, cường tráng gân cốt, kiện Vị và tăng cường thể lực.
Thường dùng điều trị các chứng cơ thể suy nhược, khí huyết hư tổn, lao lực lâu ngày, dương khí bất túc và ăn uống kém.
Ngoài ra, Dương nhục còn có tác dụng thông đạt khí cơ và thúc đẩy mụn nhọt phát ra ngoài, giúp tà độc dễ bài xuất.
Sách Thương hàn luận của Trương Trọng Cảnh có bài Đương quy dương nhục thang, dùng để điều trị các chứng hư nhược sau sinh và lao tổn.
Sách Thập tễ viết rằng: "Bổ khả khứ nhược, Nhân sâm, Dương nhục chi thuộc dã", nghĩa là phép bổ có thể chữa chứng hư nhược, tiêu biểu là Nhân sâm và thịt dê.
Lý Đông Viên cũng nói: "Nhân sâm bổ khí, Dương nhục bổ hình." Ý nói Nhân sâm thiên về bổ khí, còn thịt dê thiên về bồi bổ hình thể và huyết nhục. Những thực phẩm có tính vị tương tự thịt dê đa số đều có tác dụng bổ huyết hư. Dương khí được phục hồi thì âm huyết cũng theo đó mà sinh trưởng.
DƯƠNG CAN (GAN DÊ)
Vị đắng, tính hàn (Tô Tụng cho rằng tính ôn), màu xanh, ứng với hành Mộc.
Có tác dụng bổ Can và minh mục. Theo y học cổ truyền, Can chủ tàng huyết, khai khiếu ra mắt, mà "Can lấy tả làm bổ", vì vậy gan dê thường được dùng trong các bài thuốc chữa bệnh về mắt.
Bài Dương can hoàn, phối hợp thêm Hoàng liên, là phương thuốc cổ dùng điều trị nhiều chứng mục bệnh.
DƯƠNG ĐỞM (MẬT DÊ)
Vị đắng, tính hàn.
Có tác dụng chữa các chứng mắt chảy nước sống, mắt đỏ, màng mộng trắng và các bệnh về giác mạc.
Sách cổ ghi một phương pháp chế biến: vào tháng Chạp, lấy mật dê hòa với mật ong, đựng trong túi mật rồi bọc giấy, treo dưới mái hiên để hứng sương. Khi xuất hiện lớp kết tinh thì cạo lấy dùng để chấm mắt.
Một cách khác là cho mật ong vào túi mật dê rồi hấp chín, để khô, nghiền thành cao. Mỗi lần ngậm một ít hoặc chấm trực tiếp lên mắt.
Bài thuốc này gọi là Nhị bách vị thảo hoa cao, ý nói dê ăn trăm loại cỏ, ong hút trăm loài hoa, nên tinh hoa của chúng hội tụ lại trong bài thuốc.
Lý Thời Trân cho rằng Can khai khiếu ra mắt, mật dịch suy giảm thì mắt sẽ tối. Mắt là nơi biểu hiện ra ngoài của Can, còn tinh hoa của Đởm cũng tập trung tại đó, vì vậy các loại mật động vật phần nhiều đều có thể dùng chữa bệnh về mắt.
DƯƠNG HĨNH CỐT (XƯƠNG ỐNG CHÂN DÊ)
Quy vào Thận kinh, có tác dụng bổ cốt.
Đem đốt thành tro rồi chà răng có thể làm chắc răng và giảm đau răng.
Lý Thời Trân còn ghi rằng tro xương ống chân dê có thể dùng để mài gương đồng, còn xương đầu dê có khả năng làm tiêu mòn sắt.
Nếu vô tình nuốt phải đồng tiền bằng đồng, có thể lấy ba tiền bột xương ống chân dê, uống với nước cơm để giúp hóa giải dị vật.
4. NGƯU NHỤC
Ngưu nhục (thịt bò) Có công năng bổ Tỳ thổ. Vị ngọt, tính ôn, thuộc hành Thổ.
Có tác dụng an trung, kiện Tỳ, ích khí, chỉ khát. Sách xưa còn ghi lại phương pháp nổi tiếng gọi là "Đảo thương pháp". Dùng hai mươi cân thịt bò đực màu vàng, rửa sạch, nấu nhừ thành cháo đặc, lọc bỏ bã rồi cô đặc thành chất lỏng màu hổ phách.
Đêm trước không ăn uống, đến ngày điều trị ngồi trong phòng kín, lúc bụng rỗng thì uống từng chén nước thịt ấy, uống liên tiếp nhiều lần, có thể đến vài chục chén. Sau đó thân thể cảm thấy đau nhức; nếu tà tích ở thượng tiêu thì nôn ra, ở hạ tiêu thì đi lỏng, ở trung tiêu thì vừa nôn vừa tiêu chảy. Sau khi đại tiện tất sẽ khát nước, lúc ấy uống vài bát nước tiểu của chính mình để rửa sạch những cặn bẩn còn sót.
Khi bắt đầu thấy đói và mệt thì cho uống nước gạo loãng, hai ngày sau ăn cháo nhạt, tiếp đến cháo đặc và cơm mềm. Điều dưỡng khoảng một tháng thì những bệnh trầm kha cũng có thể khỏi. Tuy nhiên phải kiêng phòng sự nửa năm và kiêng ăn thịt bò trong năm năm.
Đan Khê nói rằng: "Con bò ứng với quẻ Khôn, thuộc Thổ, sắc vàng ở trung cung, cho nên thịt bò là thuốc của Tỳ Vị. Nước thịt là vật vô hình. Những chứng tích tụ lâu ngày nằm sâu trong những khúc quanh của trường vị, há có các loại hoàn, tán chỉ tính bằng từng phân từng ly mà có thể đến được sao? Nước thịt tràn đầy, lưu hành khắp nơi, không chỗ nào không tới, giống như nước lũ dâng cao, mọi thứ ngưng trệ đều thuận dòng mà bị cuốn đi".
Phương pháp này vốn truyền từ một dị nhân Tây Vực. Người trung niên nếu thực hiện một hai lần cũng có thể giúp trừ bệnh và dưỡng thọ.
Vương Luân nhận xét: "Thịt bò vốn là thuốc bổ trung, không phải thuốc gây nôn hay tả hạ. Mượn phép bổ để tả, nhân phép tả mà thành bổ, quả là một kỳ phương."
Đan Khê từng chữa cho Lâm Đức Phương bị ho ra máu kéo dài. Bệnh Phế bị uất tắc thì không nôn không được, nhưng huyết hư lại cần phải bổ; duy chỉ Đảo thương pháp là kiêm được cả hai mặt công và bổ, dùng xong thì khỏi bệnh. Lại có người tên Tiêu Bá Thiện mắc chứng tiểu đục, hoạt tinh, cũng dùng Đảo thương pháp mà khỏi.
Lại có Hứa Văn Ý Công bị đau tim nhiều năm, dùng thuốc táo nhiệt, linh đan, cứu ngải đủ cách mà không hiệu quả, tự cho mình là người bỏ đi. Đan Khê trước hết dùng Phòng phong thông thánh tán để công hạ tích trệ, bệnh có phần thuyên giảm và bắt đầu muốn ăn. Nhưng hai chân vẫn khó cử động, sang năm tiếp tục dùng Đảo thương pháp thì mọi việc đều ứng nghiệm, sau đó còn sinh được con và sống thêm mười bốn năm.
Lại có người anh em họ Lâm ở Lâm Hải ho lâu ngày, khạc máu, phát nhiệt, gầy sút, mọi người đều cho là chứng lao, trăm phương không hiệu nghiệm. Đan Khê bắt mạch thấy cả hai tay đều huyền sác, ban ngày nhẹ, ban đêm nặng, nhất thời không còn kế sách. Khi ấy là mùa đông, bèn dùng Đảo thương pháp, bệnh liền yên, năm sau còn sinh được con.
NGƯU NHŨ (SỮA BÒ)
Vị ngọt, tính hơi hàn. Có tác dụng nhuận Trường Vị, giải nhiệt độc, bổ hư lao, chủ trị chứng phản vị và ế cách.
Sách giải thích rằng: Vị khô kiệt hoặc Vị hàn, Tỳ mất chức năng vận hóa thức ăn, khiến khí nghịch đi lên mà thành phản vị. Gốc của bệnh là khí huyết bất túc, còn đàm ẩm và thực tích chỉ là ngọn. Vị khô thì nên tư âm sinh tân, Vị lạnh thì nên ôn trung điều khí.
Đông Viên nói: Nôn do thượng tiêu là vì khí nghịch, phép trị ở chỗ hòa trung và giáng khí. Nôn do trung tiêu là vì tích trệ, phép trị là hành khí tiêu tích. Nôn do hạ tiêu là vì hàn, phép trị là ôn trung tán hàn.
Đan Khê nói: "Chứng phản vị, ế cách mà đại tiện táo kết, nên thường xuyên từ từ nuốt sữa bò hoặc sữa dê, đồng thời dùng thêm Tứ Vật Thang là thượng sách. Không nên dùng sữa người, vì sữa người mang độc của ngũ vị thức ăn và hỏa của thất tình."
Tác giả Bình Ngang lại chú rằng: "Chứng ế cách bế tắc, nếu dùng thuốc thơm táo để cầu dễ chịu nhất thời thì chỉ làm tổn khí và táo huyết, tức là thúc đẩy cái chết đến nhanh hơn. Thà ít dùng thuốc mà uống sữa bò pha thêm nước hẹ, hoặc nước gừng, hoặc một ít rượu cũ thì tốt hơn."
Quan Án sát ở vùng Giang Nam thường mắc chứng cấm khẩu lỵ, không nuốt nổi một hạt cơm. Trịnh Điện Nhất cho dùng sữa bò, uống lâu ngày rồi cũng khỏi.
HỌNG TRÂU TRẮNG (BẠCH THỦY NGƯU HẦU)
Có công dụng trị chứng phản vị nôn ra thức ăn, ruột kết táo bón không thông. Cách dùng là bỏ hai đầu, loại bỏ lớp mỡ và màng, ngâm giấm rồi sao khô tán bột, mỗi lần uống hai tiền với nước cơm cũ.
Tô, lạc, đề hồ, hồ đều là các chế phẩm từ sữa bò hoặc sữa dê, có tính tư nhuận, hoạt trạch, rất thích hợp cho những người huyết nhiệt mà tân dịch khô kiệt.
Ngưu đởm (mật bò), cho vôi sống vào trong túi mật rồi treo nơi thoáng gió đủ một trăm ngày, dùng chữa các loại kim sang (vết thương do dao kiếm, vật sắc nhọn) rất hiệu nghiệm.
ST