14/09/2026
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TẠI KHU KINH TẾ ĐẶC BIỆT VÂN ĐỒN
Động lực mới để hình thành cực tăng trưởng phía Đông Bắc theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW
1. Vân Đồn – không gian chiến lược mới của kinh tế biển Việt Nam
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 đã mở ra một tư duy mới về biển: không chỉ khai thác biển, mà phải kiến tạo không gian phát triển từ biển; không chỉ phát triển kinh tế biển truyền thống, mà phải hình thành nền kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và có sức cạnh tranh quốc tế.
Đây là định hướng có ý nghĩa đặc biệt đối với Khu Kinh tế Đặc biệt Vân Đồn – một địa bàn có vị trí chiến lược tại vùng Đông Bắc, hội tụ các lợi thế về biển đảo, du lịch, dịch vụ, logistics, cảng biển, hàng không, công nghệ và kết nối quốc tế.
Nghị quyết 20-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành 5–6 trung tâm kinh tế biển mạnh, 3 khu kinh tế đặc biệt, tăng trưởng GRDP bình quân các địa phương ven biển trên 11%/năm và tăng trưởng tổng thu du lịch biển, đảo bình quân 14%/năm.
Trong bối cảnh đó, Vân Đồn cần được nhìn nhận không chỉ là một khu kinh tế ven biển, mà là một không gian kinh tế biển thế hệ mới, có khả năng đóng vai trò cực tăng trưởng mới của Quảng Ninh và vùng Đông Bắc.
2. Mục tiêu lớn: “Giàu từ biển – mạnh từ biển – phát triển bền vững từ biển”
Mục tiêu phát triển kinh tế biển Vân Đồn cần được đặt trong một tư duy tổng thể:
Lấy biển làm không gian phát triển; lấy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực; lấy hạ tầng đồng bộ làm nền tảng; lấy kinh tế xanh và kinh tế số làm phương thức; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, quốc phòng và an ninh biển đảo.
Đây cũng phù hợp với định hướng của Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng nền quản trị biển hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu số; sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và không gian biển; bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái biển.
3. Sáu trụ cột phát triển kinh tế biển Vân Đồn
Một là, phát triển du lịch biển đảo trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Vân Đồn cần chuyển từ mô hình du lịch tham quan đơn thuần sang hệ sinh thái du lịch biển đảo chất lượng cao:
Du lịch nghỉ dưỡng cao cấp.
Du lịch du thuyền và thể thao biển.
Du lịch sinh thái biển đảo.
Du lịch trải nghiệm cộng đồng.
Kinh tế đêm và công nghiệp giải trí.
Trung tâm hội nghị, sự kiện quốc tế.
Du lịch chăm sóc sức khỏe.
Các sản phẩm du lịch kết nối Hạ Long – Bái Tử Long – Vân Đồn – Cô Tô.
Quảng Ninh hiện cũng xác định chuỗi không gian Hạ Long – Bái Tử Long – Vân Đồn – Cô Tô là một cấu trúc quan trọng để phát triển đa dạng sản phẩm du lịch biển đảo.
Hai là, phát triển logistics và dịch vụ hàng hải quốc tế
Vân Đồn cần tận dụng vị trí cửa ngõ Đông Bắc để hình thành:
Trung tâm logistics biển – hàng không – đường bộ – thương mại quốc tế.
Trong đó có thể phát triển:
Kho ngoại quan và trung tâm phân phối.
Logistics lạnh.
Dịch vụ hậu cần cảng biển.
Chuỗi cung ứng cho du lịch biển đảo.
Vận tải đa phương thức.
Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu thuyền.
Trung tâm MRO và dịch vụ kỹ thuật.
Thương mại điện tử xuyên biên giới.
Định hướng này phù hợp với mục tiêu của Nghị quyết 20-NQ/TW về giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực vận tải biển của Việt Nam.
4. Phát triển nuôi biển công nghệ cao – biến mặt nước thành “mỏ xanh”
Một trong những hướng đi quan trọng của Vân Đồn là chuyển từ khai thác thủy sản truyền thống sang nuôi biển công nghệ cao.
Có thể phát triển:
Nuôi cá biển công nghệ cao.
Nuôi nhuyễn thể.
Nuôi rong biển.
Nuôi biển tuần hoàn.
Lồng nuôi HDPE.
Quan trắc môi trường bằng IoT.
Truy xuất nguồn gốc bằng dữ liệu số.
Chế biến sâu và xây dựng thương hiệu thủy sản Vân Đồn.
Quảng Ninh hiện có điều kiện lớn để phát triển nuôi biển, với vùng bãi triều, eo biển, vịnh và ngư trường rộng; địa phương đang định hướng chuyển mạnh sang nuôi biển công nghệ cao và chế biến sâu.
Mục tiêu không phải là “nuôi nhiều hơn”, mà là tạo ra giá trị cao hơn trên mỗi đơn vị diện tích mặt nước.
5. Kinh tế biển xanh – phát triển nhưng không đánh đổi môi trường
Vân Đồn có lợi thế đặc biệt về hệ sinh thái biển đảo. Vì vậy, phát triển kinh tế phải đi cùng nguyên tắc:
Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Cần xây dựng hệ thống:
Nước sạch → thu gom nước thải → xử lý nước thải → quan trắc biển → tái sử dụng nước → bảo vệ hệ sinh thái.
Đặc biệt cần hình thành hệ thống xử lý nước thải đồng bộ tại các khu dân cư, khu du lịch, đô thị và các khu vực ven biển; kiểm soát nguồn xả trước khi nước thải ra biển.
Nghị quyết 20-NQ/TW đặt yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển; trong đó có mục tiêu tăng cường bảo tồn biển và xử lý chất thải nhựa ven biển.
6. Xây dựng Vân Đồn thành “Khu kinh tế biển thông minh”
Đây có thể là bước đột phá khác biệt của Vân Đồn.
Không gian biển Vân Đồn cần được quản trị bằng bản đồ số và dữ liệu thời gian thực, bao gồm:
Dữ liệu đất đai.
Dữ liệu mặt nước.
Dữ liệu môi trường.
Dữ liệu du lịch.
Dữ liệu giao thông.
Dữ liệu cảng biển.
Dữ liệu nuôi biển.
Dữ liệu dân cư và đô thị.
Hệ thống cảnh báo thiên tai.
Hệ thống giám sát chất lượng nước biển.
Từ đó hình thành:
“Một bản đồ số – một hệ thống dữ liệu – một nền quản trị biển thông minh Vân Đồn.”
Đây là hướng phù hợp trực tiếp với yêu cầu của Nghị quyết 20-NQ/TW về quản trị biển hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu số.
7. Hạ tầng phải đi trước một bước
Muốn kinh tế biển phát triển, Vân Đồn cần một hệ thống hạ tầng đồng bộ:
Hàng không + đường cao tốc + cảng biển + đô thị + logistics + viễn thông + năng lượng + nước sạch + xử lý nước thải.
Đặc biệt cần nghiên cứu phát triển hệ thống:
“Hạ tầng biển thế hệ mới”
gồm:
Cảng biển thông minh.
Bến du thuyền quốc tế.
Trung tâm logistics.
Hạ tầng số 5G/6G.
Trung tâm dữ liệu.
Hệ thống cấp nước thông minh.
Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải.
Hệ thống năng lượng sạch.
Hệ thống giao thông xanh.
8. Kinh tế biển phải gắn với quốc phòng – an ninh
Vân Đồn không chỉ có giá trị kinh tế mà còn có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển đảo.
Do đó, phát triển kinh tế biển phải bảo đảm nguyên tắc:
Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ chủ quyền; phát triển dân sinh gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên biển.
Nghị quyết 20-NQ/TW cũng xác định phát triển kinh tế biển phải gắn chặt với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
9. Tầm nhìn đến năm 2045
Đến năm 2045, có thể định hướng Vân Đồn trở thành:
KHU KINH TẾ ĐẶC BIỆT BIỂN THẾ HỆ MỚI – TRUNG TÂM KINH TẾ BIỂN QUỐC TẾ – CỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI CỦA VÙNG ĐÔNG BẮC.
Trong đó hình thành 5 không gian lớn:
1. Không gian du lịch biển đảo quốc tế
2. Không gian logistics và thương mại quốc tế
3. Không gian đô thị biển thông minh
4. Không gian kinh tế biển xanh và công nghệ cao
5. Không gian bảo tồn sinh thái, quốc phòng và an ninh biển đảo.
10. Thông điệp chiến lược
Nếu trước đây tư duy phát triển là:
“Khai thác những gì biển đang có”
thì giai đoạn mới cần chuyển sang:
“Kiến tạo những giá trị mới từ biển.”
Vân Đồn cần trở thành nơi thử nghiệm những mô hình mới về kinh tế biển xanh, kinh tế số, đô thị biển thông minh, du lịch biển cao cấp, logistics quốc tế, nuôi biển công nghệ cao và quản trị không gian biển hiện đại.
Đây chính là cơ hội để cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW, biến lợi thế biển của Vân Đồn thành giá trị kinh tế, giá trị xã hội, giá trị môi trường và giá trị chiến lược quốc gia.
Vân Đồn – từ lợi thế biển thành động lực tăng trưởng.
Từ khu kinh tế ven biển thành Khu Kinh tế Đặc biệt thế hệ mới.
Từ cực phát triển của Quảng Ninh thành cực tăng trưởng mới của vùng Đông Bắc.
Quảng Ninh hiện cũng đang xác định Vân Đồn có lợi thế khác biệt để phát triển du lịch biển đảo chất lượng cao, dịch vụ, công nghiệp giải trí, logistics và các ngành kinh tế biển mới.
Mr: Vũ Quốc Phòng