Điện Tiến Quê Em

Điện Tiến Quê Em

Share

Điện Bàn Bắc Đổi Mới

06/08/2026

Quyền con người ở Việt Nam - Vàng thật không sợ lửa - Bài 3: Quyền văn hóa ngày càng được đảm bảo tốt hơn

Tác giả: NHÓM PHÓNG VIÊN

Quyền văn hóa là một thành tố thiết yếu trong hệ thống quyền con người, được nhìn nhận là không thể thiếu đối với sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân và cộng đồng. Quan điểm nhất quán, hành động quyết liệt của Đảng và Nhà nước ta là phải bảo đảm đầy đủ quyền văn hóa của người dân.

Tuy nhiên, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, phản động tìm mọi cách chống phá trên mặt trận văn hóa-tư tưởng với nhiều hình thức ngày càng tinh vi; ra sức lợi dụng sản phẩm văn hóa, nghệ thuật như một “vũ khí” từng bước thực hiện âm mưu tác động và đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Phá hoại văn hóa - Mục tiêu lớn của các thế lực thù địch

Văn hóa-tư tưởng luôn là trận địa khốc liệt, có lúc nóng bỏng, có khi thầm lặng, thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách chống phá. Mục đích không gì khác là tìm cách làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, hòng thực hiện cho bằng được chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bất ổn chính trị, xã hội.

Thủ đoạn của chúng rất đa dạng: Sáng tạo, truyền bá các sản phẩm văn hóa chứa nội dung tôn vinh, giới thiệu học thuyết chính trị đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin, hạ thấp giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; sử dụng sản phẩm văn hóa để bôi đen hiện thực xã hội, nhằm kích động nhân dân; đưa các giá trị văn hóa ngoại lai để thực hiện chiến lược “xâm lăng văn hóa”... Và đặc biệt, là thường xuyên đả kích cách thức quản lý văn hóa của chúng ta để xuyên tạc Việt Nam không bảo đảm quyền tự do ngôn luận và tự do sáng tác nói riêng; cũng như các quyền văn hóa nói chung.

Tự do ngôn luận và tự do sáng tác là những vấn đề vừa có giá trị phổ quát, vừa rất nhạy cảm về chính trị, pháp lý và văn hóa. Vì vậy, đây thường là lĩnh vực được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lựa chọn để xuyên tạc, tuyệt đối hóa hoặc tách khỏi bối cảnh lịch sử, thể chế và điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Một thủ pháp khá phổ biến của các thế lực thù địch là đồng nhất mọi hoạt động quản lý nội dung với “kiểm duyệt”, đồng nhất việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật với đàn áp tự do sáng tạo. Từ một trường hợp cụ thể, họ có thể khái quát thành bản chất của cả hệ thống; từ một quyết định hành chính còn có thể tranh luận, họ quy kết rằng Việt Nam không tôn trọng quyền con người. Trong môi trường mạng, những cách diễn giải đơn giản, cực đoan như vậy thường dễ lan truyền hơn những phân tích pháp lý đầy đủ.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: Về mặt học thuật và pháp lý, chúng ta cũng cần diễn đạt vấn đề thật chính xác, không nên nói một cách tuyệt đối rằng Việt Nam hoàn toàn không có bất kỳ cơ chế kiểm soát nội dung nào. Luật Báo chí quy định rõ báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng. Nhưng trong điện ảnh, xuất bản và một số lĩnh vực văn hóa khác vẫn có những cơ chế như biên tập, đăng ký xuất bản, phân loại phim, cấp giấy phép phổ biến, lưu chiểu, hậu kiểm và xử lý vi phạm.

“Điều cần phân biệt là kiểm duyệt tư tưởng một cách tùy tiện với quản lý nội dung trên cơ sở pháp luật. Phân loại phim theo độ tuổi, bảo vệ trẻ em trước nội dung độc hại, ngăn chặn kích động bạo lực, thù hận, xâm phạm danh dự, nhân phẩm hay quyền riêng tư không phải là hiện tượng riêng của Việt Nam. Đó là trách nhiệm bình thường của mọi nhà nước trong việc điều hòa quyền tự do của người này với quyền và sự an toàn của người khác”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Hiện nay, tại nhiều quốc gia trên thế giới, các dịch vụ truyền thông nghe nhìn không được chứa nội dung kích động bạo lực hoặc thù hận, đồng thời phải có cơ chế bảo vệ trẻ vị thành niên và bảo đảm khả năng tiếp cận đối với người khuyết tật. Công ước về quyền trẻ em cũng yêu cầu các quốc gia vừa tạo điều kiện để trẻ tiếp cận thông tin đa dạng, vừa xây dựng hướng dẫn thích hợp nhằm bảo vệ trẻ trước những thông tin, tài liệu có hại.

Tóm lại, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc về quyền văn hóa ở Việt Nam. Nhìn nhận, đánh giá lĩnh vực chứa đựng nhiều cảm tính là văn hóa, càng cần phải vận dụng phương pháp luận đúng đắn của Chủ nghĩa Mác-Lênin: Khách quan, toàn diện, lịch sử-cụ thể và phát triển. Thiếu đi sự tỉnh táo trong phân tích, nhận định, vội vàng a dua theo một bộ phận dư luận xã hội thì rất dễ bị rơi vào bẫy tinh vi của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị giăng sẵn.

Quyền văn hóa ngày càng được bảo đảm

Những năm gần đây, nhận thức và thực tiễn bảo đảm quyền con người trong văn hóa ở Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Quyền văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là quyền được “xem”, được “nghe” mà còn là quyền tham gia, quyền sáng tạo, quyền bảo vệ bản sắc và quyền được hưởng lợi từ hoạt động sáng tạo.

Thành tựu đầu tiên trong lĩnh vực này, theo PGS, TS Vũ Thị Phương Hậu, Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đó là: Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện hơn theo hướng đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa trong tình hình mới. Nhiều luật chuyên ngành về văn hóa, nghệ thuật, di sản liên tiếp ra đời, giúp lấp đầy khoảng trống pháp lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nhờ có hành lang pháp lý, chương trình, hoạt động văn hóa đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đời sống văn hóa của người dân phong phú hơn. Nhiều sản phẩm văn hóa và dịch vụ văn hóa được sáng tạo, sản xuất, phổ biến, lưu thông trên thị trường, đáp ứng thị hiếu đa dạng của công chúng. Di sản văn hóa được bảo tồn và phát huy. Công nghiệp văn hóa được quan tâm phát triển, bước đầu có những đóng góp đối với tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP). Hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc, góp phần phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.

Đặc biệt, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa (2025-2035) đã được phê duyệt với tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2025-2030 tối thiểu là 122.250 tỷ đồng. Chương trình đã gỡ khó cho vấn đề thiếu nguồn vốn để đáp ứng tốt hơn các quyền văn hóa. Không gian sáng tạo và khả năng tiếp cận sản phẩm văn hóa được mở rộng đáng kể.

Các kênh phát hành trực tuyến, thương mại điện tử và mạng xã hội đang giúp sách đến với công chúng nhanh hơn, rộng hơn. Không chỉ những người kinh doanh sản phẩm văn hóa, các văn nghệ sĩ là người Việt Nam hay người nước ngoài đều khẳng định môi trường sáng tạo ở Việt Nam rất cởi mở.

Ca sĩ, diễn viên, người mẫu Nga Sonya Firsova cho biết: “Đối với tôi, hoàn toàn ổn nếu tuân theo một số chuẩn mực văn hóa. Sau cùng, nếu bạn sắp đến một đất nước mới, bạn nên tìm hiểu về văn hóa và truyền thống của địa phương. Đó là sự tôn trọng và tôi nghĩ nhiều người nước ngoài đã làm điều đó, “nhập gia tùy tục” mà! Tôi đã ở Việt Nam để hoạt động nghệ thuật. Tôi không thấy khả năng thể hiện nghệ thuật của tôi bị hạn chế”.

Các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa mà phóng viên Báo Quân đội nhân dân trò chuyện đều nhận định: Những quy định cấm trong hoạt động văn hóa không mâu thuẫn với quyền tự do sáng tác và quảng bá. Quyền tự do sáng tạo rất quan trọng, nhưng cũng như hầu hết các quyền con người khác, đó không phải là một quyền tuyệt đối, không giới hạn.

Việc một số luật như Luật Điện ảnh, Luật Xuất bản của Việt Nam cấm nội dung kích động chiến tranh xâm lược, bạo lực, hận thù dân tộc; xâm phạm danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư; vi phạm quyền trẻ em; xâm phạm chủ quyền quốc gia hay phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là có cơ sở từ yêu cầu bảo vệ lợi ích công cộng và quyền của những chủ thể khác. Luật Xuất bản quy định cụ thể các nội dung, hành vi bị nghiêm cấm; đồng thời cũng quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý khi ban hành quyết định sai, gây thiệt hại. Luật Điện ảnh còn bổ sung yêu cầu bảo vệ trẻ em, người chưa thành niên, bảo đảm bình đẳng giới và xử lý việc phổ biến phim không thực hiện phân loại theo quy định.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: Một điểm rất đáng chú ý là pháp luật về điện ảnh không cấm việc tác phẩm mô tả cái ác, chiến tranh hay bạo lực một cách máy móc. Luật phân biệt giữa việc kích động, cổ xúy hành vi tội ác với việc thể hiện những nội dung đó nhằm phê phán, tố cáo, lên án tội ác, đề cao chính nghĩa và tôn vinh các giá trị nhân văn. Đây chính là không gian cần thiết cho sáng tạo nghệ thuật. Nếu cứ có cảnh bạo lực là cấm, có nhân vật tiêu cực là cấm, có cách nhìn khác biệt là cấm thì nghệ thuật sẽ mất khả năng phản ánh đời sống và cảnh tỉnh xã hội.

Dẫu vậy, để thúc đẩy bảo đảm quyền văn hóa hơn nữa, vẫn có ý kiến cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hoạt động văn hóa sang tư duy kiến tạo điều kiện để mọi người thực hiện quyền này. Nhà nước không chỉ ngăn chặn cái sai, cái xấu mà còn phải chủ động tạo không gian, cơ hội và nguồn lực cho cái đúng, cái đẹp, cái mới được hình thành. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng rõ ràng, thống nhất và có khả năng dự báo. Các khái niệm liên quan đến nội dung bị cấm phải được hướng dẫn bằng tiêu chí cụ thể, hạn chế cách hiểu quá rộng hoặc áp dụng thiếu thống nhất. Theo PGS, TS Vũ Thị Phương Hậu: Quốc hội cần ban hành một đạo luật riêng liên quan đến quyền văn hóa nhằm cụ thể hóa đầy đủ các cam kết quốc tế và quy định hiến pháp về quyền văn hóa. Đạo luật này sẽ xác định rõ nội hàm các quyền văn hóa của công dân (quyền tiếp cận di sản, tham gia sáng tạo, hưởng thụ văn hóa...), cũng như trách nhiệm của Nhà nước và các chủ thể liên quan trong bảo đảm các quyền đó. Việc ban hành Luật Quyền văn hóa sẽ tạo nên một khung pháp lý thống nhất, minh bạch về quyền văn hóa, khắc phục tình trạng phân tán hiện nay.

(còn nữa)

Báo QĐND


06/08/2026

Bảo đảm chất lượng bữa ăn bán trú: Quan trọng nhất vẫn là khâu giám sát

Tác giả: LINH AN

Ban chỉ đạo công tác An toàn thực phẩm (ATTP) TP Hà Nội vừa ban hành hướng dẫn bảo đảm ATTP trong công tác tổ chức bữa ăn bán trú tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn năm học 2026-2027 với nhiều điểm mới. Tuy nhiên, các ý kiến vẫn cho rằng, để bảo đảm chất lượng bữa ăn bán trú thì quan trọng nhất là phải thực hiện tốt khâu giám sát để các đơn vị cung cấp suất ăn không dám làm liều, làm ẩu.

Quyết tâm của Hà Nội

Theo Hướng dẫn số 02/HD-BCĐ ngày 18-7-2026 của Ban chỉ đạo công tác ATTP TP Hà Nội, một trong những điểm mới đáng chú ý là việc tổ chức bữa ăn bán trú được thực hiện theo phương án thống nhất trên từng địa bàn thay vì để các trường tự triển khai riêng lẻ như trước.

Theo đó, UBND các xã, phường có trách nhiệm khảo sát nhu cầu tổ chức bán trú, đánh giá điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục để xây dựng phương án phù hợp; tổ chức lựa chọn, phân công đơn vị cung cấp thực phẩm hoặc suất ăn bán trú theo quy trình thống nhất. Trên cơ sở phương án được phê duyệt, mỗi cơ sở giáo dục sẽ xây dựng kế hoạch tổ chức bữa ăn bán trú phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đối với từng mô hình tổ chức. Quy trình lựa chọn đơn vị cung cấp cũng được chuẩn hóa theo hướng công khai, minh bạch.

Việc đánh giá không chỉ dựa trên hồ sơ pháp lý mà còn kết hợp kiểm tra thực tế về điều kiện cơ sở vật chất, năng lực cung ứng, nguồn gốc nguyên liệu, quy trình bảo quản, vận chuyển và khả năng duy trì nguồn cung ổn định trước khi công khai kết quả. Các đơn vị được lựa chọn phải bảo đảm truy xuất được nguồn gốc thực phẩm, cập nhật đầy đủ dữ liệu trên hệ thống quản lý ATTP và truy xuất nguồn gốc thực phẩm của thành phố, tạo cơ sở để tăng cường giám sát và kịp thời xử lý khi phát sinh sự cố.

Nhằm tăng cường bảo đảm chất lượng bữa ăn bán trú, UBND TP Hà Nội vừa cho ra mắt hệ thống cơ sở dữ liệu về dinh dưỡng và ATTP học đường (HanoiCheck), triển khai tại 100% cơ sở giáo dục có tổ chức bữa ăn bán trú ngay từ năm học 2026-2027. Ngoài phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, ứng dụng này còn cho phép phụ huynh theo dõi thực đơn hằng ngày, nguồn gốc thực phẩm và tình trạng bán trú của con theo thời gian thực, góp phần tăng cường vai trò giám sát của gia đình đối với chất lượng bữa ăn học đường.

Thực hiện tốt khâu giám sát

Sau hơn hai tháng hè, hai con của chị Nguyễn Thùy Ninh ở tổ dân phố Cửu Việt, xã Gia Lâm (Hà Nội) đã tăng gần 5kg mỗi cháu. Chuẩn bị bước vào năm học mới, chị vừa mừng vừa lo. Mừng vì thấy nỗ lực, quyết tâm của thành phố trong bảo đảm chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh, lo vì mục tiêu đề ra có đạt được không.

Chị Nguyễn Thùy Ninh cho biết: “Không ít lần nghe con nói là thức ăn ở trường có mùi lạ và chấp nhận nhịn đói, tôi rất thương nhưng cũng chỉ biết động viên con chịu khó ăn thêm ở nhà. Tôi ủng hộ chủ trương, giải pháp của thành phố và mong muốn các nhà trường, địa phương, Ban chỉ đạo công tác ATTP có thêm kênh tiếp nhận ý kiến của phụ huynh, học sinh và bảo đảm mọi phản ánh, thắc mắc về chất lượng bữa ăn đều được tôn trọng, giữ kín thông tin, được xác minh, phản hồi đầy đủ, kịp thời. Khi phát hiện vi phạm cần công khai và xử lý nghiêm”.

Đồng tình với ý kiến của chị Ninh, anh Phạm Mạnh Đạt ở đường Hoàng Quốc Việt, phường Cầu Giấy (Hà Nội) chia sẻ và đề xuất thêm: “Tôi tin là với thẩm quyền, năng lực của đội ngũ cán bộ, xã, phường hiện nay thì họ hoàn toàn đủ chuyên môn lựa chọn đơn vị cung cấp suất ăn bán trú chất lượng. Tuy nhiên, tôi cho rằng, thành phần hội đồng xét duyệt đơn vị cung cấp suất ăn bán trú nên có ít nhất 50% thành viên là phụ huynh các cháu đang ăn và học tại các nhà trường. Việc này vừa tăng cường trách nhiệm, vừa bảo đảm khách quan vì chính con họ đang dùng những suất ăn đó”.

Nhất trí với nội dung hướng dẫn của Ban chỉ đạo công tác ATTP TP Hà Nội, đồng chí Lê Như Tiến, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (nay là Ủy ban Văn hóa và Xã hội) của Quốc hội cũng cho rằng, để học sinh có bữa ăn bán trú an toàn, chất lượng thì quan trọng nhất là phải giám sát hiệu quả toàn bộ quy trình tổ chức. Theo đó, phụ huynh cần được tham gia giám sát ngay từ khâu lựa chọn đơn vị cung cấp thực phẩm, suất ăn đến chất lượng thực tế của bữa ăn.

Đồng chí Lê Như Tiến nhấn mạnh: “Cần bảo đảm cơ chế giám sát thuận tiện, đầy đủ, chặt chẽ, thực chất để khuyến khích phụ huynh, học sinh, giáo viên theo dõi mọi khâu trong quy trình thì đơn vị cung cấp thực phẩm, suất ăn mới không thể và không dám làm liều, làm ẩu. Bữa ăn bán trú không chỉ là dinh dưỡng mà còn là niềm tin của phụ huynh gửi gắm vào bộ máy chính quyền địa phương và hệ thống quản lý”.

Báo QĐND

Bữa trưa của học sinh Trường Mầm non A Tứ Hiệp, phường Yên Sở, TP Hà Nội. Ảnh do nhà trường cung cấp


Photos from Điện Tiến Quê Em's post 06/08/2026

Về Vị Xuyên, lắng nghe bản hùng ca nơi biên cương

42 năm đã trôi qua kể từ những ngày tháng Bảy đỏ lửa trên mặt trận Vị Xuyên (12-7-1984 / 12-7-2026), nhưng ký ức về cuộc chiến đấu bảo vệ từng tấc đất biên cương Tổ quốc vẫn vẹn nguyên trong lòng những người lính và nhân dân cả nước. Từ sáng sớm, hàng nghìn cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ và nhân dân từ khắp mọi miền Tổ quốc đã hội tụ về Điểm cao 468, xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang. Trong làn sương sớm bảng lảng nơi miền biên viễn, những nén tâm nhang được thành kính dâng lên, tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Hành trình trở về chiến trường xưa không chỉ là cuộc gặp gỡ của những đồng đội năm nào, mà còn là dịp để các thế hệ hôm nay tri ân những người đã hóa thân vào đất mẹ, viết nên bản hùng ca bất tử về lòng yêu nước, ý chí quật cường và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Mỗi bước chân trên Điểm cao 468, mỗi bó hoa, mỗi nén hương thành kính là lời hứa tiếp nối truyền thống, gìn giữ hòa bình và bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng nơi biên cương Tổ quốc.

TRỌNG HẢI (thực hiện)

Báo QĐND


06/08/2026

Những thông điệp thiết thực về an toàn số

Ngày 6/8 hàng năm được chọn là Ngày An ninh mạng Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội đối với công tác bảo đảm an ninh mạng, khẳng định vai trò, ý nghĩa của an ninh mạng trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy sự tham gia của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong xây dựng không gian số an toàn, lành mạnh và đáng tin cậy.

Trong bối cảnh các hình thức lừa đảo trực tuyến, đánh cắp dữ liệu cá nhân, phát tán thông tin giả và các thủ đoạn lợi dụng công nghệ cao ngày càng tinh vi, việc nâng cao kỹ năng số cho người dân trở thành yêu cầu cấp thiết.

Hưởng ứng Ngày An ninh mạng Việt Nam năm 2026, nhiều thông điệp tuyên truyền được khuyến khích lan tỏa rộng rãi nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành động của cộng đồng. Theo đó, mỗi cá nhân cần chủ động xây dựng “lá chắn số” cho bản thân và gia đình bằng cách nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng nhận diện các nguy cơ trên không gian mạng, sử dụng Internet an toàn và biết cách bảo vệ thông tin cá nhân trước các hành vi lừa đảo, xâm phạm dữ liệu.

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc


06/08/2026

Lối sống hai mặt - căn bệnh làm xói mòn phẩm chất cán bộ

Tác giả: THẢO NGUYÊN

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán căn bệnh “trước mặt thì nể, kể lể sau lưng”. Người coi đó là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, làm tổn hại sự đoàn kết và suy yếu tổ chức. Trong bối cảnh hiện nay, lối sống hai mặt không chỉ làm suy thoái đạo đức, nhân cách cán bộ mà còn là một biểu hiện nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm suy yếu sức chiến đấu của tổ chức từ bên trong.

Những chiếc “mặt nạ” trong ứng xử

Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ một căn bệnh khá phổ biến trong đội ngũ cán bộ: “Không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác. Theo Người, đó là biểu hiện của tính hẹp hòi, của chủ nghĩa cá nhân và của sự thiếu tinh thần trách nhiệm đối với tổ chức. Lời phê phán ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Thường ngày, lối sống hai mặt không xuất hiện bằng những biểu hiện ồn ào. Nó len lỏi qua những hành vi tưởng như rất bình thường: Trước mặt thì tươi cười, đồng thuận, thậm chí tâng bốc, nhưng sau lưng lại phàn nàn, nói xấu, hạ thấp uy tín người khác. Trong hội nghị thì không có ý kiến gì, nhưng khi bước ra khỏi phòng họp lại trở thành người phản đối quyết liệt nhất. Trước cấp trên thì tỏ ra tận tụy, trung thành, trước đồng nghiệp lại gieo rắc sự nghi ngờ, chia rẽ. Đó chính là những chiếc “mặt nạ” trong ứng xử.

Điều đáng lo ngại là những người mang lối sống hai mặt thường rất khó nhận diện. Họ không công khai đối đầu, không trực diện chống đối. Trái lại, họ thường khoác lên mình vẻ ngoài mềm mỏng, khéo léo và biết lấy lòng người khác. Chính vì vậy, tác hại mà họ gây ra thường âm thầm nhưng dai dẳng.

Có người ngụy biện rằng đó là “khéo sống”, là “biết ứng xử”, là “giữ hòa khí”. Nhưng thực chất, đó không phải là sự khôn khéo mà là sự né tránh trách nhiệm. Bởi người thật sự có trách nhiệm với tập thể sẽ dám nói điều cần nói, dám góp ý điều cần góp ý, dám bảo vệ cái đúng và đấu tranh với cái sai. Còn người chỉ chăm chăm bảo vệ vị trí, lợi ích và sự an toàn của bản thân mới chọn cách im lặng trước mặt rồi nói sau lưng.

Bản chất sâu xa của lối sống hai mặt chính là sự thiếu trung thực. Một khi con người quen với sự giả dối trong ứng xử, họ sẽ dễ dàng giả dối trong công việc. Một khi không còn dám nói thật với đồng chí mình, họ cũng rất khó nói thật với tổ chức. Và khi sự giả dối trở thành thói quen, các giá trị đạo đức sẽ từng bước bị bào mòn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Muốn giữ được phẩm chất ấy, mỗi cán bộ, đảng viên trước hết phải trung thực trong suy nghĩ, trong lời nói và trong hành động.

Những vết nứt bắt đầu từ sự im lặng và giả dối

Đoàn kết là nguồn sức mạnh vô địch của Đảng, của Quân đội và của mọi tổ chức. Nhưng đoàn kết chân chính không phải là sự đồng thuận hình thức, càng không phải là sự im lặng trước những điều chưa đúng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: Phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ. Người luôn yêu cầu phê bình phải thẳng thắn, trung thực, công khai và xuất phát từ tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Ngược lại, nói xấu sau lưng không phải là phê bình, nó là biểu hiện của sự thiếu xây dựng, không giúp người mắc khuyết điểm sửa chữa sai sót, không giúp tổ chức tốt lên mà chỉ làm gia tăng nghi kỵ, mất niềm tin và chia rẽ nội bộ.

Thực tiễn cho thấy, rất nhiều mâu thuẫn trong cơ quan, đơn vị không bắt đầu từ những vấn đề lớn lao mà từ những lời bàn tán thiếu trách nhiệm. Một câu chuyện chưa được kiểm chứng, một lời đồn vô căn cứ, một sự suy diễn chủ quan. Tất cả có thể trở thành mồi lửa làm tổn thương mối quan hệ giữa cấp trên, cấp dưới, giữa đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp...

Nguy hiểm hơn, trong thời đại số, những lời nói sau lưng không còn dừng lại trong phạm vi vài người biết. Chỉ bằng một cú nhấp chuột, một bình luận ám chỉ hay một dòng trạng thái thiếu trách nhiệm, những thông tin chưa được kiểm chứng có thể lan truyền với tốc độ chóng mặt. Không ít trường hợp danh dự, uy tín của cá nhân và tổ chức bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những thông tin xuất phát từ sự đố kỵ, ganh ghét hoặc động cơ không trong sáng.

Đằng sau lối sống hai mặt là sự trỗi dậy của chủ nghĩa cá nhân. Người ta không dám góp ý trực tiếp vì sợ mất lòng, không dám bảo vệ lẽ phải vì sợ ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân, không dám đấu tranh với sai trái vì sợ va chạm... Dần dần, cái đúng không còn được bảo vệ, cái sai không được chỉ ra. Người tốt ngại lên tiếng, người cơ hội có điều kiện phát triển. Khi đó, những chuẩn mực đạo đức bắt đầu bị đảo lộn. Người trung thực có thể trở thành người “không khéo”, người thẳng thắn có thể bị xem là “cứng nhắc”. Trong khi đó, người giỏi lấy lòng, giỏi che giấu suy nghĩ thật lại được đánh giá là “biết ứng xử”. Đó chính là dấu hiệu báo động về sự lệch chuẩn trong môi trường văn hóa tổ chức.

PGS, TS Đỗ Chí Nghĩa, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, sự suy thoái thường không xuất hiện đột ngột mà bắt đầu từ những lệch chuẩn nhỏ trong đạo đức và lối sống. Khi sự giả dối được chấp nhận như một điều bình thường, những nguyên tắc tổ chức cũng sẽ dần bị xem nhẹ. Và khi niềm tin giữa con người với con người bị rạn nứt, sức mạnh tập thể sẽ không còn nguyên vẹn.

Lịch sử cho thấy không ít tổ chức từng rất mạnh nhưng suy yếu từ bên trong bởi sự mất đoàn kết. Kẻ thù bên ngoài khó có thể làm lung lay một tập thể đoàn kết, nhưng những biểu hiện giả dối, bè phái, đố kỵ và nói xấu lẫn nhau lại có thể âm thầm phá hoại từ gốc rễ. Đó là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo từ rất sớm.

Giữ vững khí phách người cán bộ bằng sự trung thực, thẳng thắn

Mọi sự suy thoái đều bắt đầu từ việc buông lỏng rèn luyện bản thân, ngược lại, mọi phẩm chất tốt đẹp cũng được hình thành từ những việc làm hằng ngày.

Để ngăn chặn lối sống hai mặt, trước hết mỗi cán bộ phải thường xuyên tự soi, tự sửa. Tự hỏi mình đã thật sự trung thực hay chưa; có dám nói điều mình nghĩ trước tập thể hay không; có đang góp ý vì lợi ích chung hay chỉ đang thỏa mãn cảm xúc cá nhân...

Đối với tổ chức, cần xây dựng môi trường dân chủ thực chất, nơi mọi người có thể nói lên chính kiến một cách thẳng thắn và có trách nhiệm. Dân chủ không phải là để nói cho hả giận, càng không phải để công kích cá nhân mà là để tìm ra giải pháp đúng nhất cho công việc và vì lợi ích chung.

Cùng với đó, phải đề cao văn hóa tranh luận lành mạnh. Một tập thể mạnh không phải là tập thể mà tất cả đều nói giống nhau. Một tập thể mạnh là tập thể mà mọi ý kiến đều được lắng nghe, mọi vấn đề đều được trao đổi thẳng thắn và mọi quyết định đều hướng tới mục tiêu chung.

Vai trò nêu gương của người đứng đầu đặc biệt quan trọng. Nếu người lãnh đạo công tâm, minh bạch, cầu thị và tôn trọng phản biện thì cấp dưới sẽ có động lực nói thật. Ngược lại, nếu người đứng đầu thích nghe lời xu nịnh, không chấp nhận ý kiến trái chiều thì sự giả dối sẽ có đất sống.

Trong Quân đội, phẩm chất trung thực luôn được coi là một trong những giá trị cốt lõi của người quân nhân cách mạng. Trung thực với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; trung thực với đồng chí, đồng đội; trung thực với chính mình. Đó không chỉ là yêu cầu về đạo đức mà còn là yêu cầu về bản lĩnh. Bởi nói thật đôi khi khó hơn nói điều người khác muốn nghe. Đấu tranh với cái sai đôi khi khó hơn sự im lặng. Giữ vững nguyên tắc đôi khi khó hơn sự thỏa hiệp, nhưng chính những điều đó làm nên bản lĩnh của người cán bộ cách mạng.

Gần 80 năm đã trôi qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "Sửa đổi lối làm việc", nhưng lời cảnh báo của Người về căn bệnh “trước mặt thì nể, kể lể sau lưng” vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc.

Lối sống hai mặt không chỉ làm tổn hại danh dự của người cán bộ mà còn bào mòn niềm tin, làm suy yếu sự đoàn kết và sức chiến đấu của tổ chức. Mỗi lời nói thiếu trung thực, mỗi sự im lặng né tránh trách nhiệm, mỗi hành vi giả tạo trong ứng xử đều có thể trở thành một vết nứt trong nền móng đạo đức.

Đấu tranh với lối sống hai mặt vì thế không đơn thuần là sửa một thói quen ứng xử, đó là quá trình bảo vệ những giá trị cốt lõi của người cán bộ cách mạng, giữ gìn sự trong sạch của tổ chức, củng cố niềm tin, sự đoàn kết và sức mạnh từ bên trong. Đó cũng chính là cách thiết thực để mỗi cán bộ hôm nay thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Sống trung thực, thẳng thắn, chân thành, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết.

Báo QĐND

Minh họa: qdnd.vn


Photos from Điện Tiến Quê Em's post 05/08/2026

Quyền con người ở Việt Nam - Vàng thật không sợ lửa - Bài 2: Việt Nam thực thi các chuẩn mực quốc tế về quyền con người

Tác giả: NHÓM PHÓNG VIÊN

Bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam không chỉ là những tuyên bố chính trị mà đã được thể chế hóa một cách toàn diện trong hệ thống pháp luật lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển. Đây là một tư duy pháp lý hiện đại, vừa phù hợp với thực tiễn đất nước, vừa cho thấy sự tương thích với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Thành viên tích cực về quyền con người của cộng đồng quốc tế

Việt Nam bắt đầu tham gia các điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người trong bối cảnh đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, gặp nhiều khó khăn trên tất cả lĩnh vực. Đây là một minh chứng rõ nét về nỗ lực của Nhà nước ta trong việc bảo đảm, thúc đẩy các quyền con người theo các chuẩn mực quốc tế.

Trong đối ngoại, Việt Nam thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ theo các công ước quốc tế về quyền con người, tham gia tích cực Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Liên hợp quốc (LHQ) và nhiều cơ chế giám sát điều ước khác. Các báo cáo quốc gia gần đây đều cho thấy Việt Nam tiếp tục hoàn thiện pháp luật, tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng Hiến chương LHQ, pháp luật quốc tế và điều kiện thực tiễn của quốc gia. Việt Nam ngày càng tham gia tích cực tại các diễn đàn quốc tế về quyền con người, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những cam kết theo cơ chế UPR và thực thi các nghĩa vụ theo những điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

PGS, TS Tường Duy Kiên, Viện trưởng Viện Quyền con người (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định: Đóng góp quốc tế của Việt Nam về quyền con người ngày càng chuyển từ “tham gia” sang “chủ động đề xuất, đồng kiến tạo và dẫn dắt một số sáng kiến”. Việt Nam là một thành viên chủ động, trách nhiệm và có đóng góp thực chất. Uy tín quốc tế không được tạo ra bằng lời tự ca ngợi, mà bằng lá phiếu của các quốc gia, khả năng tập hợp đồng thuận, sáng kiến được thông qua và cam kết được thực hiện.

Điểm nhất quán trong đóng góp của Việt Nam là thông điệp “tôn trọng và hiểu biết-đối thoại và hợp tác-tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”. Việt Nam không phủ nhận sự khác biệt giữa các quốc gia, nhưng cho rằng khác biệt không thể là lý do để áp đặt, đối đầu hoặc biến quyền con người thành công cụ can thiệp. Ngược lại, chủ quyền cũng không thể là lý do để né tránh nghĩa vụ quốc tế đã tự nguyện cam kết. Hai nguyên tắc này phải được đặt trong quan hệ cân bằng, có trách nhiệm.

Quyền con người được pháp luật bảo đảm

“Nền tảng vững chắc nhất cho việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam là Hiến pháp năm 2013. Đây được coi là một bước ngoặt quan trọng khi văn bản pháp lý cao nhất này không chỉ ghi nhận mà còn xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”, PGS, TS Nguyễn Toàn Thắng, Trường Đại học Luật Hà Nội, nhận định.

Trên cơ sở các nguyên tắc hiến định, hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng bước được cụ thể hóa để bao quát hầu hết các nhóm quyền cơ bản của con người. PGS, TS Nguyễn Toàn Thắng cho biết: Về nhóm quyền dân sự và chính trị đã được hiện thực hóa qua Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, cùng các luật chuyên ngành như Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Đối với các nhóm quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cũng được bảo đảm thông qua một mạng lưới luật pháp thực tiễn bao gồm Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật Giáo dục; Luật Nhà ở và Luật Đất đai. Đặc biệt, Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ thống pháp luật chuyên ngành tương đối toàn diện để bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương như Luật Trẻ em; Luật Người khuyết tật; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Phòng, chống mua bán người hay Luật Tư pháp người chưa thành niên.

Một điểm đáng chú ý trong tư duy lập pháp hiện nay của Việt Nam là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ việc "ghi nhận quyền" sang xây dựng các cơ chế để người dân thực sự thực hiện và được bảo vệ các quyền đó trên thực tế.

Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân là mục tiêu cốt lõi của quá trình hoàn thiện thể chế. Tiếp đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới yêu cầu xây dựng pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời coi chất lượng tổ chức thi hành pháp luật là tiêu chí đánh giá hiệu quả của hệ thống pháp luật. Cách tiếp cận này phản ánh sự chuyển biến từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, kiến tạo phát triển và bảo đảm quyền.

Có thể thấy rằng, Việt Nam đã thể hiện trách nhiệm cao khi tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản nhất về quyền con người, bao gồm Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW), Công ước về quyền trẻ em (CRC), Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD)... Năm 2015, Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, qua đó khẳng định cam kết mạnh mẽ trong việc bảo vệ nhân phẩm và quyền tự do của cá nhân. Ngoài ra, với tư cách là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam đã tham gia 25 công ước liên quan đến quyền lao động, từ việc quy định tuổi tối thiểu của trẻ em đến bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và chống lao động cưỡng bức...

Việc nội luật hóa các cam kết quốc tế này vào hệ thống luật pháp quốc gia không chỉ là nghĩa vụ mà còn là nỗ lực tự thân nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Thành tựu thực tiễn trong việc bảo đảm quyền học tập, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội đã giúp Việt Nam nhận được sự ghi nhận lớn từ cộng đồng quốc tế. Minh chứng rõ ràng nhất cho điều này là việc Việt Nam liên tục được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ trong nhiều nhiệm kỳ. Đặc biệt, vào ngày 14-10-2025, Việt Nam đã trúng cử nhiệm kỳ 2026-2028 với số phiếu ủng hộ cao nhất trong nhóm châu Á-Thái Bình Dương (180 phiếu), khẳng định vị thế và uy tín của đất nước trong lĩnh vực bảo vệ nhân quyền toàn cầu.

Bảo đảm mọi quyền con người là mục tiêu xuyên suốt

Thành tựu về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận, nhưng dưới chiêu bài “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, các thế lực thù địch vẫn cố tình bóp méo bản chất các vụ án hình sự, công kích hệ thống pháp luật và tung ra các báo cáo phiến diện nhằm bôi nhọ uy tín quốc tế của Việt Nam. Có những luận điệu, cáo buộc của một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài vô căn cứ và vô lý đến mức khó ai chấp nhận được. Ví dụ, chiều 23-7, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, khi trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam về việc Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) ra tuyên bố kêu gọi trả tự do cho 5 người bị khởi tố liên quan đến sách "Chuyện với Thanh-Lời kể mới về ánh sáng", Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định: "Cái gọi là cáo buộc của Tổ chức Theo dõi nhân quyền không đáng để bình luận".

Ví dụ trên cũng tái khẳng định những tiếng nói lạc lõng, những cáo buộc vô căn cứ của các thế lực phản động không thể bôi đen những thành tựu trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”.

Về vấn đề này, PGS, TS Tường Duy Kiên cho biết, khuôn khổ hiến định về quyền con người, quyền công dân ngày càng đầy đủ và chặt chẽ. Hiến pháp năm 2013 dành toàn bộ Chương II quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Hiến pháp đồng thời ghi nhận các quyền có ý nghĩa trực tiếp đối với đời sống chính trị như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền được xét xử công bằng và suy đoán vô tội. Đây là chuẩn mực có giá trị ràng buộc đối với hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Bên cạnh đó, quyền làm chủ và tham gia đời sống chính trị của nhân dân tiếp tục được thực hiện trên quy mô rộng lớn. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, có khoảng 76,2 triệu cử tri tham gia, đạt 99,70%. Quốc hội khóa XVI bầu đủ 500 đại biểu; trong đó có 150 đại biểu nữ, chiếm 30%; 76 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 15,2%; 18 đại biểu ngoài Đảng, chiếm 3,6%; tỷ lệ đại biểu dự kiến hoạt động chuyên trách đạt 40%, cao nhất từ trước đến nay. Những con số này là minh chứng bác bỏ luận điệu cho rằng người dân Việt Nam bị đứng ngoài đời sống chính trị hoặc cơ quan đại diện chỉ có một cơ cấu khép kín, bất biến.

Quyền của người bị giam giữ được bảo đảm tốt hơn

Thời gian qua, các thế lực thù địch cũng xuyên tạc, bịa đặt về việc Việt Nam vi phạm nhân quyền trong công tác giam giữ tội phạm. PGS, TS Tường Duy Kiên khẳng định: Pháp luật Việt Nam cấm tuyệt đối tra tấn, bức cung, nhục hình hoặc đối xử vô nhân đạo; có cơ chế phòng ngừa, giám sát và xử lý, bất kỳ vi phạm nào được chứng minh đều phải bị truy cứu. Không thể từ một cáo buộc chưa được kiểm chứng hoặc từ sai phạm của một cá nhân (nếu có) suy diễn thành “chính sách của Nhà nước Việt Nam”. Mặt khác, đánh giá quyền con người phải dựa trên chuẩn mực pháp lý, khả năng thụ hưởng thực tế và cơ chế kiểm soát quyền lực. Muốn đánh giá khách quan, phải xem cả nghĩa vụ quốc tế, pháp luật trong nước, điều kiện giam giữ, cơ chế giám sát và chính sách giáo dục, tái hòa nhập.

Thực tế là, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa các quy định của pháp luật quốc tế về quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện. Theo Hiến pháp năm 2013, mọi người không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, ngày 28-11-2014, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn việc tham gia và thực hiện Công ước của LHQ về chống tra tấn. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013.

PGS, TS Tường Duy Kiên cho rằng, các chính sách hình sự của Việt Nam không chỉ trừng phạt mà còn giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập. Một chính sách nhân đạo chỉ có ý nghĩa khi người trở về có cơ hội làm lại cuộc đời; nếu chỉ mở cánh cửa trại giam mà đóng mọi cánh cửa việc làm, tín dụng và hòa nhập xã hội thì mục tiêu cải tạo chưa thể trọn vẹn.

(còn nữa)

Báo QĐND


Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Quang Nam?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address

Quang Nam