Mô Rai chân trời xanh

Mô Rai chân trời xanh T.A.T

05/10/2026
05/10/2026

Rực rỡ sắc màu văn hoá năm châu

Sau 4 ngày diễn ra đầy sôi động, Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ II – năm 2026 đã khép lại vào tối 4/10, tại Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, để lại nhiều dấu ấn với công chúng Thủ đô, du khách trong nước và quốc tế.

Với chủ đề “Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai”, Lễ hội năm nay quy tụ 50 quốc gia, với 45 không gian văn hóa, 19 đoàn nghệ thuật quốc tế, 35 gian hàng ẩm thực, cùng chương trình giới thiệu các tác phẩm điện ảnh đến từ gần 20 nền điện ảnh. Trong bốn ngày diễn ra, Hoàng thành Thăng Long trở thành một không gian gặp gỡ đa sắc màu, nơi di sản, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thời trang, ẩm thực, du lịch và các hình thức sáng tạo cùng hiện diện, giao thoa và kết nối.

Một dấu ấn nổi bật của Lễ hội năm nay là sức lan tỏa rộng rãi tới công chúng, không chỉ trong không gian Hoàng thành Thăng Long mà còn trên các không gian công cộng và nền tảng truyền thông. Các hoạt động diễu hành trên phố đi bộ đã đưa những sắc màu văn hóa của các quốc gia đến gần hơn với người dân và du khách; lễ khai mạc và bế mạc được truyền hình trực tiếp trên VTV, mở rộng khả năng tiếp cận tới khán giả trên cả nước. Cùng với đó, sự tham gia và đồng hành của Meta góp phần đưa các hoạt động, hình ảnh và câu chuyện của Lễ hội lan tỏa mạnh mẽ hơn trên các nền tảng số, qua đó mở rộng không gian của Lễ hội từ một sự kiện trực tiếp tại Hà Nội thành một cuộc gặp gỡ văn hóa có khả năng tiếp cận đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.

Không chỉ là nơi giới thiệu bản sắc và những giá trị văn hóa đặc sắc của các quốc gia, Lễ hội còn tạo nên những cuộc gặp gỡ giữa nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà sáng tạo và công chúng; góp phần tăng cường hiểu biết, vun đắp tình hữu nghị và mở ra những kết nối mới thông qua văn hóa.

Lễ hội năm 2026 càng có ý nghĩa khi diễn ra vào dịp Việt Nam kỷ niệm 50 năm gia nhập UNESCO, đánh dấu hành trình nửa thế kỷ Việt Nam từ một đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm và ngày càng chủ động đóng góp các sáng kiến vào những vấn đề chung của UNESCO và cộng đồng quốc tế.

Phát biểu tại lễ bế mạc, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh khẳng định, đối với Việt Nam, văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, động lực và nguồn lực cho phát triển đất nước. Bảo tồn di sản không chỉ là gìn giữ những gì thuộc về quá khứ, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, tiếp tục được sáng tạo, tạo ra những giá trị mới và được trao truyền cho các thế hệ sau.

Thành công của Lễ hội cũng cho thấy khi di sản, nghệ thuật, điện ảnh, thời trang, ẩm thực, du lịch và sáng tạo được đặt trong cùng một không gian, các giá trị văn hóa không chỉ được giới thiệu và bảo tồn mà còn có khả năng tạo ra những trải nghiệm, sản phẩm và giá trị mới. Đây cũng là cách cụ thể để phát huy vai trò của các ngành công nghiệp văn hóa, chuyển hóa năng lực sáng tạo, bản sắc và tài sản văn hóa thành sức mạnh nội sinh, năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia.

Tại lễ bế mạc, các đại biểu cùng khán giả đã thưởng thức chương trình nghệ thuật gồm hai chương “Những sắc màu gặp gỡ” và “Lời chào từ Việt Nam”, với sự tham gia của các đoàn nghệ thuật quốc tế và nhiều nghệ sĩ Việt Nam.

Trong chương “Những sắc màu gặp gỡ”, những thanh âm và vũ điệu đến từ Iran, Liên bang Nga, Mexico, Myanmar, Bỉ cùng sức trẻ của các nghệ sĩ Việt Nam tạo nên một sân khấu đa sắc màu, nơi những khác biệt về ngôn ngữ và truyền thống gặp nhau trong tinh thần cởi mở, tôn trọng và sẻ chia.

Tiếp nối là “Lời chào từ Việt Nam”, đưa khán giả vào hành trình nghệ thuật từ cội nguồn, qua những miền di sản đến Việt Nam đương đại. Những chất liệu âm nhạc và nghệ thuật truyền thống của các vùng miền được thể hiện trong một không gian trình diễn mới, gửi tới bạn bè quốc tế hình ảnh một Việt Nam giàu bản sắc, năng động, sáng tạo, cởi mở và kết nối với thế giới.

Tại lễ bế mạc, Ban Tổ chức cũng trao Kỷ niệm chương của Lễ hội tới các đoàn quốc tế, thay cho lời cảm ơn và sự ghi nhận đối với những nghệ sĩ, nghệ nhân và những người bạn đã mang tài năng, bản sắc văn hóa và tinh thần sẻ chia đến với Hà Nội.

Lễ hội khép lại, nhưng hành trình kết nối vẫn tiếp tục. Những thanh âm, sắc màu, câu chuyện và tình bạn được hình thành tại Hà Nội sẽ tiếp tục lan tỏa, mang theo hình ảnh một Việt Nam giàu bản sắc, thân thiện, sáng tạo và rộng mở đến với bạn bè năm châu.

N.Hoa

Báo CAND


05/10/2026
05/10/2026

Đẩy mạnh triển khai hiệu quả chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng 👇

05/10/2026

Ngăn chặn từ sớm, từ xa tàu cá vi phạm IUU

Trước tình hình vi phạm khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), Ban Chỉ đạo về IUU Cảnh sát biển Việt Nam đã mở Tháng cao điểm từ ngày 15/8 đến 15/9/2026, quyết liệt ngăn chặn tàu cá vi phạm từ sớm, từ xa.

Trung tướng Lê Đình Cường, Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam cho biết: Tháng cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định đã được toàn lực lượng quyết liệt triển khai thực hiện với nhiều biện pháp hiệu quả, đạt được những kết quả tích cực nhằm xây dựng một nghề cá Việt Nam hiện đại, minh bạch và bền vững, sớm gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu.

Đại tá Nguyễn Hữu Tuyển, Phó Chủ nhiệm Chính trị Cảnh sát biển cho biết thêm: Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam đã ra nghị quyết chuyên đề, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện Tháng cao điểm IUU; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để ngư dân nhận thức sâu sắc hơn ý nghĩa, giá trị của việc chấp hành pháp luật trong khai thác thủy sản.

Cùng với tuyên truyền, yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát chặt chẽ, xử lý nghiêm những trường hợp cố tình vi phạm. Mục tiêu là 100% tàu cá đủ điều kiện hoạt động phải duy trì kết nối hệ thống giám sát hành trình VMS và khai báo trên hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử; không để phát sinh tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài; xử lý dứt điểm các hồ sơ vi phạm còn tồn đọng.

Những ngày cuối tháng 8, đầu tháng 9, giữa vùng biển giáp ranh Việt Nam-Thái Lan Malaysia-Indonesia, trên boong tàu CSB 8005, Hải đoàn 42, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4, cán bộ, chiến sĩ vẫn duy trì nghiêm chế độ trực, quan sát và kiểm soát mục tiêu. Trên màn hình, từng tín hiệu tàu cá được giám sát chặt; vị trí, hướng di chuyển, thông tin của con tàu nhanh chóng được cán bộ thực thi pháp luật xác định đang hoạt động đúng vùng biển hay có nguy cơ vượt ranh sang vùng biển nước ngoài.

Thượng úy Cao Đăng Trung, Chính trị viên tàu CSB 8005 cho biết, sau khi nhận được kế hoạch Tháng cao điểm chống IUU, cán bộ, chiến sĩ Tàu CSB 8005 đã quán triệt nghiêm nhiệm vụ, xác định trách nhiệm. Quan sát, phát hiện kịp thời các mục tiêu trong quá trình tuần tra, kiểm soát; đồng thời đổi mới công tác tuyên truyền trên thực địa đối với tàu cá ngư dân - đó là yêu cầu được cán bộ, chiến sĩ trên tàu thực hiện xuyên suốt mỗi chuyến tuần tra.

Từ ngày 29/8 đến 3/9, Đoàn công tác Cảnh sát biển Việt Nam tiến hành kiểm tra thực tế tại khu vực biển giáp ranh Việt Nam-Thái Lan-Malaysia-Indonesia. Trên vùng biển rộng lớn ấy, các biên đội tàu cảnh sát biển vừa tuần tra, kiểm soát, vừa tuyên truyền, nhắc nhở, hỗ trợ ngư dân; kiên quyết ngăn chặn những nguy cơ vi phạm.

Thượng úy Mai Xuân Hải, Trợ lý, Cảnh sát viên Đội Nghiệp vụ số 2, Phòng Pháp luật, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 cho biết, lực lượng tập trung kiểm tra tính pháp lý của tàu cá, thuyền viên, hàng hóa; kiểm tra việc lắp đặt, kết nối và duy trì hoạt động của thiết bị giám sát hành trình. Những trường hợp vi phạm được lập biên bản, xử lý nghiêm theo quy định, bảo đảm đúng người, đúng hành vi. Đặc biệt, các biện pháp nghiệp vụ được tăng cường để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những tàu cá có dấu hiệu khai thác trái phép, nhất là nguy cơ vượt ranh sang vùng biển nước ngoài.

Phía sau mỗi cuộc kiểm tra không chỉ là những biên bản xử lý. Trên biển, cán bộ, chiến sĩ thường xuyên nhắc ngư dân kiểm tra thiết bị giám sát hành trình, xác định vị trí tàu, chấp hành nghiêm ranh giới vùng biển được phép khai thác.

Ông Bùi Quang Kinh, Thuyền trưởng tàu KG-93638-TS cho biết: “Được cán bộ cảnh sát biển tuyên truyền về các quy định pháp luật hiện hành liên quan chống IUU, chúng tôi hiểu rằng một chuyến tàu vi phạm trót lọt có thể mang lại món lợi trước mắt, nhưng sẽ đe dọa đến sinh kế lâu dài của chính mình”.

Thượng úy Lê Anh Quân, Chính trị viên tàu CSB 4040 cho biết: Trong quá trình tuần tra cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng hỗ trợ y tế, hậu cần, kỹ thuật, bảo đảm an toàn cho người dân khi gặp khó khăn. Bởi thế, giữa trùng khơi, hình ảnh người chiến sĩ cảnh sát biển không chỉ gắn với những cuộc kiểm tra mà còn với sự sẻ chia, hỗ trợ.

Tại Vùng Cảnh sát biển 4, trong Tháng cao điểm, các tàu làm nhiệm vụ đã kết hợp chặt chẽ giữa tuần tra, kiểm tra, kiểm soát với tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho gần 700 tàu cá cùng khoảng 4.500 thuyền viên; phát gần 3.000 tờ rơi và hơn 500 lá cờ Tổ quốc cho ngư dân. Đơn vị đã triển khai 43 lượt tàu, xuồng thực hiện nhiệm vụ trên biển, hành trình hơn 20.000 hải lý an toàn; tổ chức theo dõi, giám sát chặt chẽ tàu cá hoạt động trong vùng biển được phân công; kịp thời liên hệ, tuyên truyền, nhắc nhở hơn 200 lượt chủ tàu có tàu cá mất tín hiệu thiết bị giám sát hành trình (VMS).

Song song công tác tuyên truyền, lực lượng chức năng kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm. Đơn vị đã phát hiện, kiểm tra, bắt giữ, đưa về bờ xử lý 2 vụ/2 tàu cá tàng trữ, vận chuyển trái phép 4 thiết bị VMS của tàu cá khác; xử phạt vi phạm hành chính 10 vụ/10 tàu cá; bắt giữ, xử lý 1 tàu cá vận chuyển gần 130.000 lít dầu DO không có giấy tờ hợp pháp.

Đại tá Lâm Sơn Tùng, Phó Tham mưu trưởng Cảnh sát biển Việt Nam khẳng định, cảnh sát biển sẽ tăng cường phối hợp Ban Thường vụ Đảng ủy 21 tỉnh, thành phố ven biển và các lực lượng chức năng để kiểm soát chặt chẽ, đẩy mạnh ứng dụng khoa học- công nghệ trong giám sát hoạt động tàu cá, kịp thời phát hiện vi phạm từ sớm, từ xa và xử lý nghiêm những trường hợp cố tình vi phạm.

Nguồn: Báo Nhân Dân




05/10/2026

Tiêu chuẩn mới về định mức sử dụng xe ô-tô công

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 379/2026/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô-tô gồm: Xe ô-tô phục vụ công tác các chức danh; xe ô-tô phục vụ công tác chung; xe ô-tô chuyên dùng; xe ô-tô phục vụ lễ tân nhà nước. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 16/11/2026.

Theo đó, Nghị định quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô-tô được xác định căn cứ quy mô biên chế, tổ chức bộ máy, phạm vi địa bàn quản lý và tính chất nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Trường hợp cục loại 1 và tương đương có đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và có từ 20 biên chế trở lên thì số xe của đơn vị này được xác định theo định mức riêng.

Đối với đơn vị ngành dọc đóng trên địa bàn cấp tỉnh hoặc liên tỉnh, thành phố, định mức được xác định theo số biên chế. Cụ thể, đơn vị có đến 40 biên chế được sử dụng tối đa 1 xe; trên 40 đến 80 biên chế, tối đa 2 xe; trên 80 đến 120 biên chế, tối đa 3 xe. Đơn vị có trên 120 biên chế, ngoài số xe xác định theo mức trên, cứ 50 biên chế tăng thêm được bổ sung 1 xe. Định mức cũng được điều chỉnh theo đặc điểm địa bàn.

Đối với cấp xã, đối tượng áp dụng gồm Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và đơn vị sự nghiệp cấp xã. Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô-tô phục vụ công tác chung tối đa 2 xe/xã.

Trường hợp cấp xã có đơn vị sự nghiệp trực thuộc, không bao gồm đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, có từ 20 biên chế trở lên, số xe của đơn vị sự nghiệp được xác định theo định mức riêng và cộng vào định mức sử dụng xe ô-tô của cấp xã.

Đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc bộ, cơ quan trung ương, Tỉnh ủy, Thành ủy, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Nghị định quy định định mức riêng theo lĩnh vực hoạt động. Đơn vị thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đơn vị có đến 100 biên chế được sử dụng tối đa 1 xe; trên 100 đến 300 biên chế, tối đa 2 xe; trên 300 đến 500 biên chế, tối đa 3 xe; trên 500 đến 1.000 biên chế, tối đa 4 xe; trên 1.000 đến 2.000 biên chế, tối đa 5 xe; trên 2.000 biên chế, tối đa 6 xe.

Đơn vị ngoài lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đơn vị có đến 50 biên chế được sử dụng tối đa 1 xe; trên 50 đến 100 biên chế, tối đa 2 xe; trên 100 đến 200 biên chế, tối đa 3 xe; trên 200 đến 500 biên chế, tối đa 4 xe; trên 500 đến 1.000 biên chế, tối đa 5 xe; trên 1.000 biên chế, tối đa 6 xe.

Trường hợp đơn vị sự nghiệp có đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và dưới 20 biên chế, số biên chế được tổng hợp vào đơn vị cấp trên để xác định định mức. Nếu đơn vị trực thuộc có từ 20 biên chế trở lên, số biên chế này không tính vào đơn vị cấp trên; số xe của đơn vị trực thuộc được xác định theo quy định tương ứng.

Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên, người đứng đầu đơn vị có thể quyết định bổ sung xe ngoài định mức. Nghị định quy định mức giá mua xe ô-tô phục vụ công tác chung tối đa 950 triệu đồng/xe. Đối với một số trường hợp cần sử dụng xe có công suất lớn, mức giá được quy định cao hơn…

Nguồn: Báo Nhân Dân




05/10/2026

Những điểm mới trong Quy định số 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm

Ngày 17/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm (Quy định số 212-QĐ/TW), thay thế Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6/7/2022 và Quy định số 264-QĐ/TW ngày 14/2/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 69-QĐ/TW.

Việc ban hành Quy định số 212-QĐ/TW là bước tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên, bảo đảm đồng bộ với các quy định mới của Đảng, đồng thời đáp ứng những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Nhìn tổng thể, Quy định số 212-QĐ/TW vừa kế thừa những nội dung còn phù hợp của Quy định số 69-QĐ/ TW và Quy định số 264-QĐ/TW, vừa sửa đổi, bổ sung, cụ thể hóa nhiều nội dung quan trọng. Điểm nổi bật không chỉ nằm ở việc bổ sung các hành vi vi phạm, mà còn ở việc làm rõ hơn trách nhiệm, nguyên tắc và căn cứ xử lý; khắc phục những khoảng trống có thể phát sinh khi tổ chức bộ máy thay đổi; cập nhật các lĩnh vực mới như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Qua đó, kỷ luật của Đảng tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nghiêm minh, chính xác, kịp thời, đồng thời bảo đảm khách quan, công bằng, giáo dục và phòng ngừa.

Khi nhận diện “điểm mới”, cần phân biệt rõ ba cấp độ: Nội dung mới hoàn toàn; nội dung kế thừa nhưng được mở rộng, bổ sung; và nội dung được cụ thể hóa, hệ thống hóa lại để thuận lợi hơn trong áp dụng. Đáng chú ý, tinh thần xuyên suốt của Quy định là xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, giúp tổ chức đảng, đảng viên nhận thức rõ khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn. Vì vậy, kỷ luật không chỉ nhằm xử lý hành vi đã xảy ra, mà còn hướng mạnh tới cảnh tỉnh, phòng ngừa, hoàn thiện cơ chế và tạo môi trường để tổ chức, cán bộ thực hiện nhiệm vụ đúng trách nhiệm, hiệu quả hơn.

Đáp ứng yêu cầu thực tiễn, không để "khoảng trống trách nhiệm"

Qua thực tiễn thực hiện Quy định số 69-QĐ/TW và Quy định số 264-QĐ/TW, nhiều nội dung đã phát huy hiệu quả, tạo cơ sở quan trọng để xem xét, xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tuy nhiên, tình hình mới đặt ra những yêu cầu mới. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy làm xuất hiện các trường hợp tổ chức đảng kết thúc hoạt động, chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất.

Quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý cùng sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm xuất hiện những dạng hành vi, phương thức và không gian vi phạm mới. Yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngày càng đòi hỏi trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu, phải được xác định rõ hơn.

Trong bối cảnh đó, Quy định số 212-QĐ/TW được ban hành không phải là sự thay đổi tách rời những quy định trước đây, mà là sự kế thừa, cập nhật và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn. Đây là cách tiếp cận cần được quán triệt khi nhận diện những điểm mới của Quy định: Cái mới phải được đặt trong sự vận động liên tục của hệ thống quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

Từ góc độ rộng hơn, việc hoàn thiện các quy định về kỷ luật cũng cho thấy công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật ngày càng được đặt trong tổng thể đổi mới phương thức lãnh đạo, kiểm soát quyền lực và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị. Kỷ luật nghiêm minh phải đồng thời góp phần phòng ngừa vi phạm, nâng cao trách nhiệm, bảo vệ người làm đúng và thúc đẩy việc thực hiện chủ trương, nghị quyết đi vào thực chất.

Đối chiếu với Quy định số 69-QĐ/TW cho thấy, đây không phải là việc xác lập lại hoàn toàn đối tượng áp dụng, mà là sự kế thừa và mở rộng có mục tiêu. Quy định số 69-QĐ/TW đã áp dụng đối với tổ chức đảng hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể hoặc thay đổi do chuyển giao, chia tách, sáp nhập; đồng thời áp dụng với một số trường hợp đảng viên đặc thù.

Quy định số 212-QĐ/TW tiếp tục kế thừa nền tảng đó, đồng thời bổ sung, làm rõ các trường hợp tổ chức đảng “kết thúc hoạt động”, “hợp nhất” và mở rộng phạm vi đối với “đảng viên ở nước ngoài”. Quy định này có ý nghĩa trực tiếp trong điều kiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đang được tiếp tục sắp xếp, đổi mới.

Tổ chức có thể thay đổi mô hình, tên gọi hoặc kết thúc hoạt động, nhưng trách nhiệm đối với vi phạm đã xảy ra không vì thế mà mất đi. Việc quy định rõ đối tượng áp dụng góp phần bảo đảm tính liên tục của trách nhiệm, hạn chế việc lợi dụng thay đổi tổ chức hoặc vị trí công tác để né tránh xem xét, xử lý vi phạm. Có thể nói, đây là bước hoàn thiện quan trọng nhằm bảo đảm nguyên tắc: Ở đâu có quyền hạn, trách nhiệm và vi phạm thì ở đó phải có cơ chế xem xét trách nhiệm phù hợp.

Quy định số 212-QĐ/TW đề cao trách nhiệm, đồng thời bảo đảm xử lý khách quan, công bằng. Theo đó, tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc xử lý kỷ luật trên cơ sở xem xét đầy đủ nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, thái độ tự phê bình và kết quả khắc phục. Cách tiếp cận này bảo đảm kỷ luật nghiêm nhưng không cơ học; xử lý đúng tổ chức, đúng người, đúng hành vi và tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm.

Đáng chú ý, đối chiếu với Quy định số 69-QĐ/TW cho thấy điểm mới trực tiếp của Quy định số 212-QĐ/TW là bổ sung rõ trách nhiệm tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan, sai; đồng thời tiếp tục yêu cầu xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật oan, sai. Nội dung này thể hiện yêu cầu rất cao về tính chính xác và trách nhiệm trong thi hành kỷ luật Đảng: Kỷ luật phải nghiêm minh đối với vi phạm, nhưng chính cơ quan thực hiện quyền kỷ luật cũng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Điều đó có ý nghĩa cả về nguyên tắc và thực tiễn.

Sức mạnh của kỷ luật Đảng không chỉ được thể hiện ở tính nghiêm khắc mà còn ở sự công minh, chính xác và khả năng tự sửa chữa khi có sai sót. Quy định rõ trách nhiệm khắc phục đối với quyết định oan, sai góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức đảng, đảng viên; đồng thời nâng cao trách nhiệm, chất lượng kiểm tra, thẩm tra, xác minh và quyết định thi hành kỷ luật.

Cập nhật kịp thời các vi phạm trong khoa học, công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo

Một trong những điểm mới nổi bật của Quy định số 212-QĐ/TW là thiết lập nhóm quy định riêng về vi phạm trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bao quát cả dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo.

Đối với tổ chức đảng, xác định trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, xử lý vi phạm thuộc lĩnh vực này. Đối với đảng viên, nhận diện nhiều hành vi mới liên quan đến nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo; việc thu thập, xử lý, sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo; việc sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói, chữ ký, tạo lập hoặc phát tán thông tin trái quy định; cũng như các hành vi thu thập, sử dụng, chia sẻ, mua bán, khai thác dữ liệu số trái quy định. Đây là sự bổ sung có ý nghĩa cả trước mắt và lâu dài.

Khi hoạt động lãnh đạo, quản lý và đời sống xã hội chuyển mạnh lên môi trường số, dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng, còn trí tuệ nhân tạo ngày càng tham gia sâu vào quá trình xử lý thông tin và hỗ trợ quyết định, thì rủi ro và hành vi vi phạm cũng thay đổi. Kỷ luật của Đảng vì vậy phải theo kịp sự dịch chuyển của phương thức hoạt động và phương thức thực thi quyền lực.

Điểm cần nhấn mạnh là việc đưa những hành vi mới vào phạm vi điều chỉnh, tạo cơ sở để các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên nhận diện sớm giới hạn trách nhiệm, những nguy cơ mới và những hành vi không được thực hiện. Qua đó, Quy định tăng cường cơ sở nhận diện, cảnh báo và phòng ngừa sớm các rủi ro, hành vi vi phạm trong môi trường số, đồng thời tạo căn cứ rõ hơn cho việc xem xét, xử lý khi vi phạm xảy ra.

Quy định mới có sự kế thừa cơ chế bảo vệ đổi mới, sáng tạo, tiếp tục xác lập ranh giới trách nhiệm. Nội dung bảo vệ cán bộ, đảng viên năng động, đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung không phải là điểm mới hoàn toàn của Quy định số 212-QĐ/TW. Quy định số 69-QĐ/TW đã đặt ra cơ chế xem xét miễn xử lý kỷ luật hoặc giảm nhẹ trách nhiệm đối với trường hợp đề xuất đổi mới, sáng tạo được cấp có thẩm quyền cho phép, thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung nhưng gặp rủi ro hoặc xảy ra thiệt hại. Quy định số 212-QĐ/TW kế thừa tinh thần này và tiếp tục cụ thể hóa tại điểm e khoản 14 Điều 2 theo hướng xem xét miễn kỷ luật khi đáp ứng các điều kiện được quy định.

Nội dung này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và yêu cầu cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Giữ nghiêm kỷ luật không đồng nghĩa với triệt tiêu sáng tạo. Ngược lại, kỷ luật đúng phải tạo ra ranh giới rõ ràng giữa đổi mới vì lợi ích chung với lợi dụng chủ trương đổi mới, cơ chế thí điểm hoặc khoảng trống quản lý để vụ lợi, trục lợi. Khi ranh giới trách nhiệm được xác định rõ, cán bộ có động cơ trong sáng, làm đúng chủ trương và vì lợi ích chung có cơ sở để chủ động, sáng tạo; đồng thời những hành vi núp bóng đổi mới để vi phạm phải được nhận diện và xử lý nghiêm.

Đây là yêu cầu quan trọng để vừa giữ vững kỷ luật, kỷ cương, vừa tạo môi trường thúc đẩy đổi mới và phát triển. Điều cốt lõi là phải phân định rõ giữa vi phạm do vụ lợi, tùy tiện, lợi dụng cơ chế với rủi ro hoặc thiệt hại phát sinh trong quá trình thử nghiệm, đổi mới đã được cấp có thẩm quyền cho phép, được thực hiện đúng chủ trương, với động cơ trong sáng và vì lợi ích chung. Phân định đúng ranh giới này vừa bảo đảm kỷ luật, vừa tránh tâm lý sợ sai, né tránh, làm triệt tiêu động lực đổi mới.

Kỷ luật gắn với giáo dục, phòng ngừa và khắc phục hậu quả

Một điểm xuyên suốt trong Quy định số 212-QĐ/TW là tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của kỷ luật với yêu cầu giáo dục, phòng ngừa và khắc phục hậu quả. Mục đích của kỷ luật đảng không chỉ là áp dụng hình thức xử lý đối với một tổ chức đảng hoặc đảng viên vi phạm, mà thông qua xử lý để cảnh tỉnh, giáo dục, ngăn ngừa vi phạm; qua từng vụ việc để phát hiện những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, quản lý và kiểm soát quyền lực. Việc quy định cụ thể hơn về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng; thái độ nhận trách nhiệm; việc chủ động ngăn chặn, khắc phục hậu quả và những tình tiết liên quan giúp việc xem xét kỷ luật sát hơn với bản chất của từng vụ việc.

Qua đó hạn chế cả hai khuynh hướng: xử lý không nghiêm, không tương xứng với vi phạm hoặc áp dụng kỷ luật cứng nhắc, thiếu xem xét đầy đủ bối cảnh, động cơ và kết quả khắc phục. Theo tinh thần đó, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật cần được nhìn nhận không chỉ như công cụ phát hiện, xử lý sai phạm, mà còn là cơ chế cảnh báo sớm, kiểm soát quyền lực, phòng ngừa rủi ro và góp phần hoàn thiện thể chế. Qua kiểm tra, giám sát phải kịp thời nhận diện những sơ hở, bất cập, những điểm dễ phát sinh lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để chấn chỉnh từ sớm, từ xa; đồng thời tạo hành lang trách nhiệm rõ ràng cho cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

Có thể khái quát những nội dung đáng chú ý của Quy định số 212-QĐ/TW trên ba phương diện: Mở rộng, làm rõ phạm vi trách nhiệm để bảo đảm tính liên tục; bổ sung các lĩnh vực, hành vi và phương thức vi phạm mới, nhất là trong khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; đồng thời tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu thi hành kỷ luật công minh, chính xác, gắn với giáo dục, phòng ngừa và khắc phục hậu quả. Những nội dung đó phản ánh yêu cầu thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới.

Để Quy định thật sự phát huy hiệu quả, trước hết các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần tổ chức nghiên cứu, quán triệt đầy đủ, nhất là những nội dung mới, lĩnh vực mới và hành vi vi phạm mới. Việc thực hiện phải thống nhất, chính xác, tránh cả tình trạng né tránh, nể nang, đùn đẩy trách nhiệm và tình trạng áp dụng máy móc, thiếu căn cứ.

Cùng với đó, phải tăng cường kiểm tra, giám sát đối với những lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm; chú trọng nhận diện rủi ro trong quản lý dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và các mô hình mới; kịp thời cảnh báo, chấn chỉnh ngay từ khi mới phát sinh dấu hiệu. Kỷ luật nghiêm không chỉ để xử lý sai phạm đã xảy ra, mà quan trọng hơn là ngăn ngừa vi phạm mới và tạo nền tảng cho phát triển lành mạnh, bền vững.

Quy định số 212-QĐ/TW vì thế không chỉ hoàn thiện căn cứ xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, mà còn góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, nâng cao ý thức trách nhiệm, củng cố kỷ luật, kỷ cương và tạo môi trường để đổi mới, sáng tạo đi đúng hướng. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, thống nhất Quy định sẽ góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đồng thời bảo đảm kỷ luật, kỷ cương thật sự trở thành nền tảng và động lực phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Tác giả: HÀ QUỐC TRỊ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
Nguồn: Báo Nhân Dân





Address

Tỉnh Kon Tum

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Mô Rai chân trời xanh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share