Rất mong Hải Dương vượt qua được cơn bão Virus Vũ Hán. Để an toàn, ăn tết vui vẻ mong các bạn chú ý giữ gìn sức khỏe, tập thể dục thể thao, đặc biệt vệ sinh thân thể, nhà cửa thông thoáng và hãy lạc quan rồi mọi thứ sẽ ổn.
Thông tin Hải Dương
Thông tin về Hải Dương thân yêu !
10/07/2020
GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi đắng cay...
Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy...
Hạt gạo làng ta
Những năm bom Mỹ
Trút trên mái nhà
Những năm cây súng
Theo người đi xa
Những năm băng đạn
Vàng như lúa đồng
Bát cơm mùa gặt
Thơm hào giao thông...
Hạt gạo làng ta
Có công các bạn
Sớm nào chống hạn
Vục mẻ miệng gàu
Trưa nào bắt sâu
Lúa cao rát mặt
Chiều nào gánh phân
Quang trành quết đất
Hạt gạo làng ta
Gửi ra tiền tuyến
Gửi về phương xa
Em vui em hát
Hạt vàng làng ta...
Trần Đăng Khoa
1969
30/03/2020
Bạn Yến, người Hải Dương có gửi đến trang Clip do các bạn Hải Dương thực hiện.
Mong Hải Dương sớm loại VuHan Virus ra khỏi cuộc sống
Việt Nam ơi – Đánh bay corona (Môi trường đô thị Hải Dương) Cán bộ công nhân viên công ty Cổ phần Môi trường đô thị Hải Dương thực hiện video “Việt Nam ơi – Đánh bay corona” tuyên truyền phòng chống dịch Covid-19. Web...
Hải Dương dự kiến thành lập 3 cụm công nghiệp
Mới đây, lãnh đạo UBND tỉnh Hải Dương vừa có ý kiến nhất trí về chủ trương thành lập 3 cụm công nghiệp trên địa bàn Tỉnh.
Trong đó, Cụm công nghiệp Tứ Cường - Chi Lăng Bắc, huyện Thanh Miện có diện tích đất dự kiến sử dụng là 75 ha. Khu đất nằm trên địa bàn các xã Tứ Cường, Chi Lăng Bắc và Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện. Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật là Công ty CP Hạ tầng công nghiệp và Đô thị Telin.
Có cùng diện tích sử dụng đất với cụm công nghiệp trên, Cụm công nghiệp Hồng Lạc, huyện Thanh Hà nằm trên địa bàn xã Hồng Lạc, huyện Thanh Hà. Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật là Công ty CP Ô tô Việt Đông Hải Dương.
Cụm công nghiệp Yết Kiêu, huyện Gia Lộc có diện tích đất dự kiến sử dụng là 70,2 ha. Khu đất nằm trên địa bàn các xã Yết Kiêu, Lê Lợi và Phương Hưng, huyện Gia Lộc. Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật là Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Gia Lộc.
Để hoàn thiện các thủ tục theo quy định, lãnh đạo UBND Tỉnh giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với UBND các huyện nêu trên tích hợp 3 cụm công nghiệp này vào Quy hoạch tỉnh Hải Dương thời kỳ 2021 - 2030. Sở Tài nguyên và Môi trường được giao chủ trì, phối hợp với UBND các huyện tham mưu, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt bổ sung diện tích đất dự kiến thành lập cụm công nghiệp...
Minh Thông (báo Đấu Thầu)
04/08/2019
Hiền tài xứ Đông
Hải Dương là vùng đất đã sinh dưỡng và hội tụ nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng. Ðó là những nhà quân sự, chính trị, ngoại giao, những nhà văn hoá, nhà khoa học, những vị tổ nghề được nhân dân cả nước ca tụng, tôn thờ. Dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu một số danh nhân tiêu biểu có cuộc đời và sự nghiệp gắn liền với mảnh đất Hải Dương.
Trần Quốc Tuấn (1226 - 1300)
Là con An Sinh Vương Trần Liễu, quê ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc - Nam Ðịnh.
Trần Quốc Tuấn là chủ soái của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thời Trần. Năm 1258, ông chặn đánh giặc Nguyên ở biên giới, góp phần quan trọng trong chiến thắng quân Nguyên lần thứ nhất. Tháng 6-1285, ông cầm quân giao chiến tại Vạn Kiếp (hương Vạn Kiếp, lộ Lạng Giang thời Trần; nay thuộc xã Hưng Ðạo, huyện Chí Linh, Hải Dương), kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai. Tháng 8-1288, dưới sự lãnh đạo thiên tài của Trần Quốc Tuấn, quân dân nhà Trần đã làm nên chiến thắng trên sông Bạch Ðằng nổi tiếng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba. Ðội quân vô cùng hung hãn, từng tung vó ngựa xâm lược khắp từ châu Âu sang châu á phải cúi đầu bại trận trước khí thế anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam.
Tháng 4-1289, ông được phong là Quốc công tiết chế Hưng Ðạo Ðại Vương và lập đền thờ (gọi là Sinh Từ) ở Vạn Kiếp. Cuối đời, ông về sống ở Vạn Kiếp và mất tại đó vào ngày 3-9-1300. Ông được vua phong là "Thái sư, Thượng phụ, Thượng quốc công, Nhân vũ Hưng Ðạo Ðại Vương", nhân dân tôn xưng ông là Ðức Thánh Trần. Những chiến công oanh liệt của Trần Hưng Ðạo mãi mãi lưu dấu trong sử sách, tên tuổi ông gắn liền với những địa danh nổi tiếng: Vạn Kiếp, Bạch Ðằng. Trần Quốc Tuấn đã phát huy cao độ truyền thống giữ nước của dân tộc, cùng với triều đình phát động thành công cuộc chiến tranh toàn dân, đánh bại đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới cùng những tướng lĩnh sừng sỏ lúc đó, đè bẹp ý chí xâm lược của quân thù. Gần nửa thế kỷ chỉ huy quân đội, thiên tài quân sự của ông được khẳng định trên hai lĩnh vực: lý luận và thực tiễn. Ông là người nắm vững tri thức quân sự đương thời, có tầm nhìn chiến lược sâu sắc. Trên cơ sở kế thừa tinh hoa quân sự của các triều đại trước cùng những kinh nghiệm đúc rút từ những năm tháng cầm quân đánh giặc, ông đã chấp bút lưu lại cho đời sau những thiên sách quý báu như Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ,...
Ðền Kiếp Bạc thuộc xã Hưng Ðạo (Chí Linh) là khu tưởng niệm lớn của cả nước, di tích lịch sử được xếp hạng đặc biệt quan trọng, hàng năm, nhân dân khắp nơi trong nước về dự hội đền từ ngày 15 đến 20 tháng 8 âm lịch.
Mạc Ðĩnh Chi (1272 - 1346)
Tự là Tiết Phu, người làng Lũng Ðộng, huyện Chí Linh (nay là xã Nam Tân, Nam Sách). Ông thông minh hơn người song vóc dáng nhỏ bé, tướng mạo xấu xí. Khi mới đỗ Trạng nguyên năm 1304, Trần Nhân Tông chê ông xấu, ông làm bài phú "Ngọc tỉnh liên", tự ví mình với bông hoa sen. Vua khen hay và cất nhắc làm Thái học sinh dũng thư, sung chức Nội gia thư. Năm 1308, ông được cử đi sứ nhà Nguyên. Nhiều giai thoại còn truyền lại về tài ứng đối và biện luận của ông trong dịp đi sứ này.
Mạc Ðĩnh Chi ra mắt vua Nguyên cùng với sứ Cao Ly. Nhân có sứ thần ngoại quốc dâng chiếc quạt, vua Nguyên yêu cầu Mạc Ðĩnh Chi và sứ Cao Ly làm thơ đề quạt. Mạc Ðĩnh Chi xong trước, vua Nguyên xem xong gật gù khen và phê vào 4 chữ "Lưỡng quốc trạng nguyên".
Mạc Ðĩnh Chi là một trong những kỳ tài trong nền văn học nước ta. Cuộc đời, sự nghiệp cùng với những câu chuyện giàu chất truyền thuyết về ông được nhân dân ta truyền tụng, giữ gìn. Ông làm quan trải 3 triều vua, được thăng tới chức Tả bộc xạ Nhập nội hành khiển.
Tính ông ngay thẳng liêm khiết, được người đương thời trọng vọng, khâm phục. Sau khi trở về quê, ông mở trường dạy học. Nơi ông dạy học được nhân dân trong vùng gọi là "Trạng nguyên cổ đường" (Ngôi nhà xưa của quan trạng). Ông là đại biểu cho sự thanh cao của nho sĩ đương thời.
Chu Văn An (1292 - 1370)
Hiệu là Tiều ẩn, tên chữ là Linh Triệt, người thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì - Hà Nội. Ông thi đậu Thái Học sinh (Tiến sĩ), từng làm Tư nghiệp Quốc tử giám. Ðời Trần Dụ Tông, ông dâng sớ xin vua chém 7 tên nịnh thần (người đời gọi là Thất trảm sớ) song không được chấp thuận nên ông đã từ quan. Noi gương thầy, các học trò của ông nhiều người đỗ đạt cao song vẫn giữ đức thanh liêm mẫu mực.
Sau khi rời bỏ chốn quan trường, Chu Văn An đến núi Phượng Hoàng, xã Kiệt Ðặc (nay là xã Văn An, huyện Chí Linh) dựng nhà dạy học, làm thuốc chữa bệnh, làm thơ, viết sách và tự đặt tên là Tiều ẩn. Tuy vậy, mỗi khi triều đình có đại sự đều mời ông tham dự. Sau khi mất, ông được truy tặng tước Văn Trình Công và được thờ tại Văn Miếu - Quốc tử giám. Ông còn để lại nhiều thi tập có giá trị như: Tiều ẩn thi tập, Tiều ẩn quốc ngữ thi tập, Tứ thư thuyết ước,...
Nguyễn Bá Tĩnh (1330-1400)
Nguyễn Bá Tĩnh, pháp hiệu là Tuệ Tĩnh Thiền Sư, biệt hiệu: Hồng Nghĩa, người làng Nghĩa Phú - tổng Văn Thai - Cẩm Giàng, nay là xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng.
Năm Tân Mão (năm 1351), ở tuổi 22, ông đỗ Hoàng giáp, được phong chức Bình Tây tướng quân. Nửa cuối thế kỷ XIV, nhà Trần suy yếu, chính sự rối ren, ông từ quan, đi chu du thiên hạ làm nghề thuốc cứu giúp dân lành. Quan điểm của ông là "Thuốc Nam Việt trị bệnh người Nam Việt". Ông sử dụng cây cỏ nước Nam để chữa bệnh, dùng các bài thuốc và phương pháp điều trị được lưu truyền trong dân gian như: chườm, châm cứu, xoa bóp,...
ông được cử đi sứ nhà Minh năm Giáp Tý (năm 1384). ở Trung Quốc, ông chữa khỏi bệnh cho vợ vua và được phong là "Ðại y Thiền sư". Thấy ông giỏi y thuật, vua Minh giữ lại không cho về. Tại đây, ông vẫn làm thuốc và viết sách. Ngày 15-2-1400, ông mất tại Giang Nam, Trung Quốc. Tương truyền, trên mộ chí, mặt sau bia đá có khắc lời nhắn: "Về sau có ai bên nước nhà sang, nhớ cho hài cốt tôi về với".
Thiền sư Tuệ Tĩnh được giới y học và nhân dân tôn là Y Thánh, lập miếu thờ tại Hà Nội. Suốt đời cống hiến cho sự nghiệp y học, ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Bộ sách "Nam Dược thần hiệu" của ông giới thiệu 580 vị thuốc Nam và 3.873 phương thuốc điều trị 184 loại bệnh. Tuệ Tĩnh là người có công đặt nền móng xây dựng y học dân tộc thưở sơ khai.
Tại Cẩm Giàng ngày nay còn một số di tích về Tuệ Tĩnh như đền Xưa, đền Bia, chùa Giám. Năm 1973 chùa Giám, nơi Tuệ Tĩnh ở lúc sinh thời, được chuyển vào trong đê để tránh lũ lụt, cách di tích cũ 8 km. Năm 1989, chùa Giám được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Hàng năm, vào ngày 15 tháng 2 âm lịch, nhân dân vẫn mở hội tưởng niệm ông.
Nguyễn Trãi (1380 - 1442)
Hiệu là ức Trai. Tổ tiên ông vốn ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Nhỡn, nay là xã Cộng Hoà, Chí Linh. Cha ông là Nguyễn Ứng Long thiên cư về làng Nhị Khê (tên cũ là làng Ngọc Ổi) huyện Thường Tín - Hà Tây. Mẹ là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên Ðán, Tể tướng nhà Trần.
Lúc trẻ, tài văn chương của Nguyễn Trãi đã nức tiếng gần xa, kinh, sử, bách gia, bình thư thao lược đều am hiểu cả. Năm 20 tuổi, ông đỗ Thái Học sinh. Hai cha con cùng làm quan, ông giữ chức Chính trưởng đài ngự sử.
Năm 1407, nhà Minh sang xâm lược nước ta, Nguyễn Phi Khanh - thân phụ của ông bị bắt giải về Kim Lăng, Trung Quốc. Nguyễn Trãi theo cha đến ải Nam Quan. Theo lời dạy của cha: "Hãy trở về tìm kế cứu nước, trả thù cho cha", Nguyễn Trãi đã gạt nước mắt quay về. Trên đường trở về, không may ông sa vào tay giặc và bị giam lỏng ở Ðông Quan (Hà Nội).
Ðời vua Lê Thái Tông, nịnh thần đầy rẫy, ông từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn. Năm 1442, vua lại vời về triều, ông làm chính giám thị kỳ thi tiến sĩ. Ðúng lúc đó, nhân vụ án Lệ Chi Viên, bọn gian thần kiếm cớ buộc tội ông chủ mưu giết vua và kết án chu di tam tộc. Ông mất ngày 19-9-1442. Ðời Lê Thánh Tông, năm 1464, ông được vua minh oan và truy phong tước cũ.
Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, là thiên tài trên nhiều lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn học,... Ông để lại nhiều tác phẩm như ức Trai Dư địa chí, ức Trai Thi tập, Văn bia Vĩnh Lăng, Lam Sơn Thực lục,... Ghi nhận những đóng góp xuất sắc của Nguyễn Trãi đối với sự phát triển của dân tộc Việt Nam và sự phát triển những giá trị nhân văn nhân loại, năm 1980, tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã phong ông là danh nhân văn hoá thế giới.
Nguyễn Thị Duệ (1574- ?)
Nguyễn Thị Duệ còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Toàn, Nguyễn Thị Du; hiệu là Diệu Huyền, tự là Tinh Phi. Nguyễn Thị Duệ người làng Kiệt Ðặc (nay là xã Văn An, huyện Chí Linh). Bà là người tuyệt sắc, lại thông minh. Cụ thân sinh ra bà tiếc tài con gái, đồng ý cho bà cải trang nam giới đi học và ứng thi.
Lịch sử ghi lại rằng: Nhà Mạc mở khoa thi Hội, bà đỗ đầu. Khi mở tiệc đãi các tân khoa, vua Mạc phát hiện sự giả mạo trên, song không phạt mà còn nạp cung, phong làm Tinh Phi, ngụ ý khen bà vừa xinh đẹp vừa sáng láng như vì sao. Thời chúa Trịnh, bà giữ chức Lễ Sư dạy dỗ trong Vương phủ. Nguyễn Thị Duệ nổi tiếng là người có tri thức uyên thâm, văn chương xuất chúng, sống vị tha và đặc biệt quan tâm đến giáo dục. Những kỳ thi hội, thi đình bà đều được xem lại văn bài của những người đỗ đạt. Bà có công lớn trong việc giúp đỡ lớp sĩ tử tại Chí Linh.
Bên cạnh mộ bà (thuộc núi Từ Ngư, làng Kiệt Ðặc), nhà Nguyễn đã cho xây dựng Tinh Phi cổ tháp, được liệt vào hạng "Chí Linh bát cổ".
Nguyễn Lương Bằng (1904 - 1979)
Nguyễn Lương Bằng sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, lớn lên làm công nhân tàu biển, gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội do Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu - Trung Quốc. Cuối năm 1926, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được phái về nước hoạt động. Năm 1929, Nguyễn Lương Bằng sang Trung Quốc nhận nhiệm vụ giao thông liên lạc giữa Quảng Châu với Hồng Kông; tuyên truyền vận động binh lính Pháp, Việt kiều và một số công nhân nhà máy Dieden đấu tranh.
Ngày 31-5-1931, mật thám Anh theo dõi và bắt đồng chí ở Quảng Châu - Trung Quốc. Ðầu năm 1932, chúng đưa đồng chí về Sở Mật thám Hải Dương. Khoảng tháng 8-1932, chúng đưa đồng chí về nhà giam Hoả Lò, Hà Nội.
Ðêm 24-12-1934, đồng chí Nguyễn Lương Bằng vượt ngục trở về Hải Dương. Tại ấp Dọn (xã Thái Dương, huyện Bình Giang), đồng chí viết báo và ra tờ báo lấy tên là "Công Nông". ở Hải Dương được ít ngày, đồng chí bị địch bắt trong chuyến đi liên lạc với cấp trên.
Năm 1944, sau khi vượt ngục Sơn La, Nguyễn Lương Bằng được chỉ định là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Ðảng, phụ trách tài chính và binh vận, là Bộ trưởng Bộ Tài chính của Tổng bộ Việt Minh. Nguyễn Lương Bằng đã đảm nhiệm các chức vụ Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Ðại sứ đặc mệnh toàn quyền ở Liên Xô, Tổng thanh tra của Chính phủ, Phó Chủ tịch nước. ở bất kỳ cương vị công tác nào, đồng chí Nguyễn Lương Bằng cũng luôn là tấm gương sáng về đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tác phong cần cù, giản dị.
Lê Thanh Nghị (1911 - 1989)
Tên thật là Nguyễn Khắc Xứng, thuộc dòng dõi nho học tại làng Thượng Cốc, xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc. Từ năm 16 tuổi, Lê Thanh Nghị đã làm công nhân tại Hải Phòng, Quảng Ninh. Tham gia phong trào công nhân vùng mỏ, đồng chí được kết nạp Ðảng năm 1929. Bị địch bắt, Lê Thanh Nghị bị kết án tù chung thân và bị đầy ra Côn Ðảo. Năm 1936, chính phủ của Mặt trận bình dân Pháp lên cầm quyền tại Pháp, Lê Thanh Nghị ở trong số tù chính trị được ân xá. Cuối năm 1937, cấp trên cử đồng chí về Hải Dương và trực tiếp vào làm việc ở Nhà máy Nước Ninh Giang. Giữa năm 1938, tại nhà đồng chí Hiểu, số 14 phố Chợ Tây, thị xã Hải Dương, đồng chí Lê Thanh Nghị đã triệu tập cuộc họp gồm đại biểu các huyện, thị xã để bầu ra Ban lãnh đạo Ðoàn Thanh niên Dân chủ. Tháng 8-1938, được sự đồng ý của đồng chí Hoàng Văn Thụ, đồng chí Lê Thanh Nghị đã thành lập chi bộ Ðảng Cộng sản Nhà máy Nước Ninh Giang gồm 4 người, do đồng chí trực tiếp làm bí thư.
Sau năm 1954, đồng chí Lê Thanh Nghị giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp. Nhiều năm đồng chí là Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Từ năm 1982 đến năm 1987, đồng chí Lê Thanh Nghị giữ cương vị Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Nhà nước.
Ðây chỉ là 8 trong số hàng trăm người con ưu tú của dân tộc đã ghi dấu sự nghiệp của mình trên đất Hải Dương. Người dân Hải Dương còn tự hào là hậu duệ của những danh nhân như Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hữu Cầu,... "Người là hoa của đất", tên tuổi của những người đức rộng, tài cao, những người có công với dân với nước vẫn lưu danh muôn thuở, luôn là niềm tự hào, là tấm gương cho con cháu noi theo.
23/07/2019
Còn mãi niềm tự hào văn hóa xứ Đông
Nói đến Hải Dương, nhiều người thường gọi với cái tên xứ Ðông, bởi nơi đây vốn là trấn phên dậu phía Ðông của kinh thành Thăng Long xưa. Có thể khẳng định rằng, truyền thống văn hiến từ ngàn xưa chính là niềm tự hào, đồng thời là cội nguồn tạo nên sức sống mãnh liệt, sức bật mạnh mẽ của mảnh đất này trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay.
Trầm tích văn hoá từ những di tích
Mảnh đất Hải Dương hiện đang lưu giữ khối lượng lớn văn hoá vật thể và phi vật thể đa dạng, độc đáo với 1.098 di tích lịch sử, văn hoá, danh thắng. Từ những dấu ấn thời kỳ đồ đá cũ có niên đại trên 3 vạn năm ở hang Thánh Hoá, núi Nhẫm Dương, đến những di chỉ, di vật có giá trị của thời đại đồ Ðồng tại Ðồi Thông (Kinh Môn), Hữu Chung (Tứ Kỳ), làng Gọp (Thanh Hà),... Văn hoá Lý, Trần, Lê, Nguyễn là dòng chảy liên tục và rực sáng trên vùng đất này, đã tạo nên một không gian văn hoá đặc biệt - nơi kết hợp hài hòa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với chiều sâu lịch sử và tâm linh với 127 di tích được xếp hạng quốc gia mà tiêu biểu là Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phượng Hoàng (Chí Linh). Chỉ trong một không gian chừng 5 km2 đã có hàng chục di tích lưu giữ những kỷ niệm về 3 danh nhân vĩ đại của đất nước và thế giới. Ðó là Trần Hưng Ðạo - danh nhân quân sự, Nguyễn Trãi - danh nhân văn hoá, Chu Văn An - "người thầy của muôn đời"; cùng An Phụ, Kính Chủ (Kinh Môn) đã trở thành những huyền thoại của non sông đất Việt.
Văn hoá - Nhìn từ những lễ hội truyền thống
Giá trị đặc trưng của văn hoá xứ Ðông được thể hiện qua các lễ hội truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống của cộng đồng dân cư Hải Dương xưa và nay. Ngay từ ngày mùng 1 Tết Nguyên Ðán, chùa Ðồng Ngọ (Thanh Hà) đã mở hội đánh chuông. Ðây là lễ hội mở đầu cho các lễ hội mùa xuân của tỉnh. Tháng Tám - mùa thu, lễ hội đền Kiếp Bạc (Chí Linh) là một trong những lễ hội lớn nhất của cả nước. Ðến với lễ hội xứ Ðông, quý khách sẽ được tham dự các đám rước lớn, các trò chơi dân gian đặc sắc: trò thuỷ chiến - lễ hội đền Kiếp Bạc; bơi trải - lễ hội đền Quát, đánh gậy - lễ hội đền Cuối (Gia Lộc); hát chầu văn (Ninh Giang); trò đánh bệt - lễ hội đền Sượt (thành phố Hải Dương); thi nấu cơm - lễ hội chùa Hào Xá (Thanh Hà); đu tiên, leo núi, du xuân - lễ hội Côn Sơn,... Với 566 lễ hội được khôi phục, lễ hội xứ Ðông mang đậm yếu tố lịch sử, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo, cầu mong quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt, đời sống ấm no, ngợi ca những bậc tiền nhân, anh hùng dân tộc có công với dân với nước, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, hướng đến sự cao đẹp.
Cùng với những lễ hội dân gian, xứ Ðông còn nổi tiếng là một trong những cái nôi của nghề thuật hát chèo của vùng Ðồng bằng Bắc Bộ. "Chiếng chèo Ðông" với những nghệ nhân tên tuổi như: Phạm Thị Trân, Trùm Thịnh, Trùm Bông, cố nghệ sĩ nhân dân Trịnh Thị Lan, Minh Lý,... có công lao to lớn trong việc xây dựng và phát triển nghệ thuật hát chèo Việt Nam.
Ngoài bộ môn hát chèo, xứ Ðông còn lưu giữ nhiều loại hình văn nghệ dân gian như: nghệ thuật tuồng, múa rối nước, xiếc, hát ca trù, hát trống quân, hát đối, hát ru, ca dao, tục ngữ. Vốn văn hóa truyền thống phong phú ấy đã bộc lộ những nét nhuần nhị, trữ tình, lạc quan, đầy lãng mạn trong tính cách của người xứ Ðông.
Văn hoá - Nhìn từ những sản vật truyền thống
Văn hoá xứ Ðông được hình thành, đi lên bằng sức lao động cần cù, sáng tạo của con người trên mảnh đất này. Người Hải Dương không những giỏi làm ra hạt lúa, hạt đậu, hoa thơm trái ngọt như gạo nếp cái hoa vàng (Kinh Môn, Cẩm Giàng), vải thiều (Thanh Hà); dưa hấu (Gia Lộc); na dai, chuối mật (Chí Linh), mà còn biết chế biến nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng khắp trong và ngoài nước như bánh đậu xanh, bánh khảo, bánh cuốn, nem chua (thành phố Hải Dương), bánh g*i (Ninh Giang), bánh đa Kẻ Sặt (Bình Giang), rượu Phú Lộc (Cẩm Giàng), giò chả (Gia Lộc), mắm rươi, chả (Kim Thành), mắm cáy (Thanh Hà),...
Không những thế, Hải Dương còn là quê hương của nhiều làng nghề truyền thống danh tiếng như chạm khắc đá Kính Chủ (Kinh Môn), chạm khắc gỗ Ðông Giao (Cẩm Giàng), kim hoàn Châu Khê, gốm Cậy (Bình Giang), gốm Chu Ðậu (Nam Sách), khắc ván in Hồng Lục - Liễu Tràng (Gia Lộc), thêu Xuân Nẻo (Tứ Kỳ), dệt chiếu Tiên Kiều (Thanh Hà). Những sản phẩm từ các làng nghề truyền thống này thể hiện sự sáng tạo khéo léo, tài hoa của người xứ Ðông.
Nhìn từ góc độ chủ thể sáng tạo văn hóa
Văn hoá xứ Ðông rực sáng bởi được hình thành, tạo dựng từ truyền thống yêu nước, kiên trung, cách mạng của con người Hải Dương. Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đất và người Hải Dương đã góp phần làm nên những mốc son lịch sử vẻ vang trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước với các nhân vật lịch sử nổi tiếng như các nữ tướng Thiện Nhân, Thiện Khánh; Khúc Thừa Dụ, Yết Kiêu, Trần Khắc Chung, Trần Khánh Dư, Nguyễn Chế Nghĩa, Ngô Bệ, Ðinh Văn Tả, Nguyễn Hữu Cầu, Ðốc Tít, Ðỗ Quang, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Lương Bằng,... Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có trên 30 vạn thanh niên Hải Dương tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. 38.295 người con ưu tú của Hải Dương đã hy sinh, toàn tỉnh ghi danh 1.658 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Nhân dân và đất nước đời đời ghi công ơn họ. Họ là những tấm gương cho các thế hệ hôm nay trong bài học về chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Hải Dương còn là đất học, đất khoa bảng. Hải Dương đứng đầu về tiến sĩ nho học của cả nước với 472 người, trong đó có 11 trạng nguyên. Làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang được tôn phong là "Làng tiến sĩ" với 39 tiến sĩ dưới các triều đại phong kiến. Văn Miếu Mao Ðiền (Cẩm Giàng) - Văn Miếu trấn Hải Dương xưa là một minh chứng cho truyền thống hiếu học của người xứ Ðông. Nhiều tiến sĩ nho học của Hải Dương là những tác giả nổi tiếng, để lại cho ngày nay hàng trăm tác phẩm có giá trị trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, khoa học, văn học, ngoại giao như: Tuệ Tĩnh, Mạc Ðĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Vũ Hữu, Nguyễn Dữ,... Ðặc biệt là Nguyễn Thị Duệ - nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam.
Những người con của Hải Dương nay - xứ Ðông xưa luôn tự hào về những truyền thống văn hoá tốt đẹp của mảnh đất "địa linh, nhân kiệt", nơi "ánh mặt trời tỏa sáng miền duyên hải" này và đang nỗ lực kế thừa, phát huy những truyền thống đó trong cuộc sống hôm nay.
23/07/2019
Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương
Click here to claim your Sponsored Listing.
Location
Contact the business
Telephone
Website
Address
Trung Tâm điều Hành
Hai Duong
10000