Thiếu tướng Võ Bẩm

Thiếu tướng Võ Bẩm

Share

Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Thiếu tướng Võ Bẩm, 25A Phan Dinh Phung, Ba Dinh, Hanoi.

Photos from Thiếu tướng Võ Bẩm's post 01/07/2022

Ngày giỗ 14, con cháu chắt từ Bắc Nam tụ về Nhà thờ AHLLVT- Thiếu Tướng Võ Bẩm ở quê nhà để tưởng nhớ tới Cha - Ông- Cụ của mình.

08/03/2022

BA NGƯỜI KHỔ HẠNH PHÍA SAU TƯỚNG VÕ BẨM

Tên tuổi ba tôi, Thiếu tướng Võ Bẩm – Người mở đường Trường Sơn đã gắn liền với lịch sử đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Mính huyền thoại. Ông cũng đã được Nhà nước tăng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Trong khi đó ít ai biết về sự khổ hạnh lặng lẽ của ba người phụ nữ sau lưng ông.

𝑩𝒂̀ 𝒏𝒐̣̂𝒊 𝒕𝒐̂𝒊 – 𝒌𝒉𝒐̂̉ 𝒉𝒂̣𝒏𝒉 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒈𝒊𝒂 𝒈𝒊𝒂́𝒐 𝒗𝒂̀ 𝒄𝒐̂ đ𝒐̛𝒏

Bà nội tôi thường gọi là bà Điển Bảy, họ Trương, một họ lớn có nhiều người, qua nhiều đời làm quan Triều Nguyễn và cũng có nhiều nhười tham gia cách mạng giành độc lập. Tôi không biết cha bà nội làm quan chức gì, chỉ thấy bà là người phụ nữ gia giáo, điển hình của “công dung ngôn hạnh”. Bà bị đau dạ dày, cơn đau thường hành hạ bà. Bà ít nói. Tôi vẫn nhớ hình ảnh bà ăn trầu, chăm sóc vườn rau, đúc bánh tráng, phơi bột mình tinh, cho tôi ăn cháo khi đau bệnh và dẫn tôi thăm ruộng... nhưng dù đã rất cố gắng vẫn không nhớ được nụ cười của bà. Đến sau Giải phóng, năm 1975 chúng tôi nhận được bức ảnh bà để lại mới thấy rõ nụ cười hiền lành trên khuôn mặt phúc hậu của bà. (Ảnh 1). Bà kỹ tính. Anh Bốn Khéo kể, ngày xưa không có xà bông như bây giờ, Bà bảo rửa chén bát “khi nào tay kỳ nghe kêu kít kít mới coi là sạch”. Không biết có phải từ tính cách ấy của bà truyền lại mà ba tôi hay nhắc chúng tôi: “Làm việc gì cũng phải đến nơi đến chốn” không?.
Cơ ngơi của nhà họ Võ khi bà về làm dâu gồm một khu nhà và mấy chục mẫu ruộng đất. Khu nhà nằm trong một khuôn viên cỡ hai ngàn mét vuông. Cấu trúc khu nhà rất điển hình của loại nhà ở khá giả vùng nông thôn xứ Quảng; gồm nhà trên – nhà thờ, nhà ngang (vuông góc với nhà trên), nhà bếp (vừa là nơi làm gạo, kéo lúa). Ngoài ra trong vườn còn có chuồng trâu, chuồng ngựa. Chuồng heo, chuồng gà nằm ở chân mái nhà bếp. Nhà trên là một ngôi nhà rường ba gian hai chái, tường đá ong trát vôi, nền trán xi măng, mái lợp tranh dày, chân mái cắt phẳng dày gần gang tay . Bàn thờ gia tiên đặt ở gian giữa, bộ trường kỷ đặt trước bàn thờ chính, hai bộ phảng ở gian hai bên. Ba gian chính có trần ván gỗ. Hai chái có trần đúc, một chái là kho thóc, một chái là buồng ngủ. Khi chơi trò trốn tìm tôi thường trèo lên trần buồng ngủ rồi theo trần ván bò qua trần kho thóc hay ngược lại. Nhà ngang một gian hai chái. Một chái là buồng ngủ của Bà nội; một chái kê bộ phản, lũ chúng tôi ngủ trên bộ phản này, gian chính giữa treo chiếc võng dây dừa móc chéo từ hai cột liền vách của ngôi nhà. Chắc hẳn chúng tôi đã lớn lên trong lòng bà nội trên chiếc võng này.

Ông nội tôi tham gia khởi nghĩa Duy Tân bị bắt, bị đánh đập trọng thương thành bệnh rồi chết (tháng 3/2017). Khi đó bà nội mới 27 tuổi nhưng đã có bốn đứa con và ở vậy đến già. Người con nhỏ nhất là ba tôi, lúc đó độ một tuổi. Ngoài ba tôi là út, Bà còn ba người con đều chết trẻ và cùng nằm gần nhau trong Vườn Hoang. Ba tôi không để lại ký ức gì về bác Hai và bác Tư, ngoài việc biết tên “cúng cơm” của hai ông là Xe và Cộ. Bác Ba là Võ Khoa. Theo cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Tịnh”, tháng 4/1927 Hội nghị thành lập Huyện bộ Hội Thanh niên Cách mạng Đồng chí do Đồng chí Trương Quang Trọng chủ trì đã bầu ban chấp hành Huyện bộ gồm 7 ủy viên chính thức, trong đó có Võ Khoa. Tháng 10/1929 đa số hội viên Hội Thanh niên Cách mạng Đồng chí đều bị bắt, bị kết án từ 1 đến 9 năm tù. Bác Võ Khoa bị đày lên Nhà đày Buôn Mê Thuộc rồi bệnh chết năm 1931.

Tôi cố hình dung hoàn cảnh tuổi 40 của bà nội những năm 1930. Ngày nay tuổi 40 có khi mới lập gia đình, nhưng ngày đó bà đã mất chồng và 3 người con; trong đó có hai người vì tham gia chống Pháp mà bị sát hại. Giờ đây bà chỉ còn người con duy nhất (còn gọi là con một) là ba tôi. Không chỉ là tình mẹ con, các cụ ngày xưa còn rất sợ họa “tuyệt tự” không người nối dõi tông đường. Nếu nhụt chí, chắc Bà sẽ không cho ba tôi tiếp tục đi theo con đường của cha và anh. Nhưng ngược lại, một mặt Bà hỗ trợ con trai hoạt động cách mạng và cùng con như tham gia Nông hội đỏ, mặt khác Bà thúc dục ba tôi lấy vợ. Kết quả Bà đã cưới vợ cho ba tôi cuối năm 1934 (lúc ông mới 18). Tuy nhiên mới được mấy tháng, chưa kịp có con, ba tôi bị bắt, bị kết án 12 năm tù. Trong khi ba tôi ở tù, Bà ở nhà cùng con dâu tham gia phong trào. Bà cũng cắt tóc ngắn duy tân như phụ nữ cách mạng ngày đó. (Ảnh 2). Đầu 1945 Bà còn cho Việt Minh mượn đất Vườn Hoang làm nơi huấn luyện quân sự bí mật cho lực lương chuẩn bị khởi nghĩa ở địa phương và đã tích cực đóng góp tiền bạc, thóc gạo và vận động bà con đóng góp nuôi quân khi đó. Từ năm 1945 Bà còn nhận chú Lê Trọng Tâm – chiến sĩ Nam tiến (sau này là Đại tá, cán bộ Đoàn 559 – Mặt trận Trường Sơn) làm con nuôi và tham gia hội Mẹ Chiến sĩ. Trong đời tù ngục và trận mạc của ba tôi có mấy lần ông bị bệnh nặng đều lui về gia đình và được Bà chăm sóc. Ông thường nói: “Tao mau khỏe lại là nhờ món cá sòng hấp cuốn rau sống với bánh tráng nướng của bà nội tụi bay”.

Qua suốt thời gian hơn tám năm, từ năm 1935, đến năm 1943, ở nhà chỉ có “mẹ chồng con dâu” và từ 1942 có thêm sự “tham gia” của lũ nhóc chúng tôi, gia đình vẫn rất hòa thuận. Mẹ chồng và con dâu có chung một người thân yêu đang ở tù và sau này ra trận, có cùng ý chí đấu tranh chống Pháp, cùng nhau vượt qua khó khăn và nỗi đau, cùng tham gia các phong trào cách mạng. Vậy mà đến 1948 bà nội tôi kiên quyết ra ở riêng. Bà đã thuê người dở ngôi nhà ngang, dựng lại ở vườn dưới để bà ở riêng với một đứa ở. Hồi đó các gia đình nghèo thường phải cho con đi ở làm việc nhà, giữ em, chăn bò v,v… (bây giờ gọi là người giúp việc). Người ở giúp bà là anh Bốn Khéo. Trong hồi ký Ba tôi kể khi ông bị thương hàn vào giữa năm 1943, “nhà tôi và chú em Đỗ Khéo thay nhau cầm nón quạt”, nghĩa là anh đã ở với gia đình chúng tôi từ trước 1943, lúc đó khoảng 12 tuổi.

Tôi đoán nguyên nhân chính của việc Bà ra ở riêng là do bất đồng về việc thờ cúng. Một bên là gia giáo truyền thống, một bên là ấu trĩ cộng sản. Sau ba lần học về Chủ nghĩa Mác – Lê Nin (đại học, nghiên cứu sinh, tập huấn sĩ quan) tôi mới dám nói ba mẹ tôi dù rất yêu Nước nhưng hơi bị “ấu trĩ cộng sản” trong việc này. Dễ hiểu thôi, thời điểm đó ba mẹ tôi không được học Chủ nghĩa bài bản nên có quan điểm duy vật “chết là hết”, không còn gì để thờ cúng. Tính ba tôi lại rất quyết đoán, còn mẹ với ba lại “là một” (như Ông vẫn nói với chúng tôi), nên Ông đã bất chấp sự phản đối của bà nội, đã thay bàn thờ gia tiên bằng bàn thờ Tổ quốc. Tôi còn nhớ bàn thờ Tổ quốc lúc đó không có lư hương, chỉ có quốc kỳ và ảnh Hồ Chủ tịch. Trên tường vôi trắng phía trước nhà, mấy anh Thanh niên Cứu quốc còn viết khẩu hiệu binh vận: “Hỡi anh em binh sĩ! Nhà đồng bào cũng như nhà mình, chớ nên đốt phá!”. Quê tôi thuộc vùng tự do Liên Khu 5, giáp biển nên quân Pháp thường đổ bộ càn quét. May mà suốt 9 năm kháng chiến chúng chưa lên đến chỗ nhà chúng tôi bao giờ, lỡ như chúng đến và có kẻ yêu chân giặc Pháp hơn yêu nhà đồng bào chắc ngôi nhà đã ra tro từ thời đó.

Từ ngày thu cất bàn thờ, tôi hầu như không thấy Bà nội lên nhà trên nữa. Về ba tôi, có lần khi tôi về thăm, khi ông đã gần 90, Ông khoe: “Tao vừa được cơ quan cho về quê thăm bà nội tụi bay, bà còn khỏe…”. Tôi biết ông đã nhầm giữa đời thực với chiêm bao và đã giải thích. Ông sực tỉnh, trầm ngâm một lúc rồi bảo tôi làm lại nhà thờ trên nền cũ ở quê và anh chị em chúng tôi đã làm xong năm 2010.

Năm 1953, thực hiện chính sách về ruộng đất (giảm tô tức), bà nội tôi được quy là địa chủ, mẹ tôi là phú nông. Ra ở riêng, bà sống nhờ mấy đám ruộng phát canh thu tô. “Phát canh thu tô”, “không lao động” là những tiêu chí của “thành phần địa chủ”. Mẹ tôi không phát canh, chỉ thuê người cày cấy. Bà tôi còn nuôi một con bò con và thuê thằng Bường cỡ 9 tuổi chăn dắt; tôi không biết “lương” thằng Bường bao nhiêu, và “hạch toán” lời lãi ra sao. Tôi cũng không biết bà tôi còn được bao nhiêu ruộng đất, nhưng cuối mùa thu hoạch thì thấy bà chỉ có một bồ thóc tủ rươm để ngoài vườn (sợ để trong nhà có thể bị đốt hoặc bị bom cháy). Một hôm tôi thấy một đoàn trai tráng khoảng chục người quải đôi thúng trên vai đứng thành hàng trên sân trước nhà bà. Họ đến để thu thuế nông nghiệp, nhưng bà tôi không chịu nộp nên đành về không. Với từng ấy quang gánh thì bồ thóc của bà không chắc đã đủ. Khi quay vào, đi ngang qua cửa, Bà càm ràm nhưng tôi nghe được: “Chính phủ độc ác!”. Tôi đem câu đó nói lại với mẹ tôi, Mẹ bảo: “Chết! con không được nói với ai nghen, người ta nghe được họ bắt bà mày đấy!”. Và tôi đã không nói với ai cho tới tận hôm nay. Có lẽ đây cũng là một biểu hiện “ấu trĩ ”, máy móc thực hiện chính sách theo câu chữ của cán bộ nào đó đã làm mất lòng bà. Tôi vẫn nhớ các cô bác ở Xã thường đến thăm và rất thân quý với gia đình chúng tôi. Giữa năm 1953, khi ba tôi từ Trung quốc về, mẹ tôi đang bịnh rất nặng; Ủy ban Kháng chiến Hành chính xã đã cho ba tôi mượn 1.300.000 đồng tín phiếu để kịp mua thuốc cứu sống mẹ tôi. Một triệu ba là khá to; nghe nói cuối 1954, mẹ tôi bán đôi trâu cũng chỉ được từng ấy.

Năm 1954, gia đình ba tôi thuộc diện đủ tiêu chuẩn đi tập kết. Nhưng mẹ và bà nội đều không chịu đi. Mẹ tôi thì đang bệnh mặc dù có thuyên giảm nhưng vẫn còn rất nặng, sợ có thể chết dọc đường hoặc ra miền Bắc lạnh cũng khó qua khỏi. Bà nội tôi thì nêu lý do không thể để mồ mả ông bà không có ai trông nom. Sau cùng quyết định trong 5 chị em, bốn đứa lớn sẽ theo ba ra Bắc đi học, còn chú út lúc đó 4 tuổi ở lại với mẹ và bà. Sau khi đón 4 chị em chúng tôi vào nơi ông đóng quân ở Tam Quan, Bình Định, một hôm ba tôi bảo ông phải về quê. Chúng tôi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ bà đòi đi theo; Ông bảo “đường xa, đạp xe hàng 100 cây số, lại ngược gió làm sao chở nổi tụi bay, Ba đi vài bữa rồi vô liền”. Sau này tôi đã “thông cảm” cho ba tôi và cũng hiểu lúc đó ông đã bối rối như thế nào. Ông đã về cố thuyết phục, nhưng bà nội tôi dứt khoát không đi. Ba tôi cũng không ngờ đó là lần cuối cùng ông gặp mẹ. Ra đi để mẹ già ở lại, Ba mẹ tôi đều rất xót xa, trong bức thư ngày 10/4/1954 gởi chúng tôi, Ba tôi viết: “Bà nội bà ngoại đều mạnh khỏe cả nhưng nhớ các con lắm, khóc hoài…”

Trước âm mưu trả thù người kháng chiến của địch, Tỉnh ủy đã bí mật tổ chức đưa mẹ và Út Kiên vượt tuyến vào khu vực 300 ngày rồi tập kết ra bắc. Bà nội ở lại một mình trong khu nhà đã vắng bóng con cháu, nhưng được bà con chòm xóm luôn quan tâm giúp đỡ. Bà đã lập bia cho tất cả những người được thờ ở nhà thờ gia đình. Bà cũng làm sẵn cho mình một tấm bia viết bằng chữ Hán nay vẫn đặt ở mộ Bà. Tôi có chị bạn ngày nhỏ cùng là trẻ chăn trâu bò với nhau, chồng chết, dù có người con một thành đạt ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng chị vẫn sống một mình ở quê. Tôi hỏi “sao chị không vào sống với con cháu, ở một mình thế này lúc đau ốm làm sao?” Chị trả lời không cần suy nghĩ: “Mả ông ấy ngoài này làm sao bỏ đi được!”. Việc này làm tôi thêm nhớ bà nội tôi.

Khi địch tiếp quản và thực hiện chính sách chống cộng, do có người bị địch tra tấn chịu không nỗi khai bậy, bà bị địch bắt tra điện dã man, nhưng không tìm được gì nên thả; lúc đó Bà đã 65 tuổi. Năm 1964 xã Tịnh Khê được giải phóng, trở thành căn cứ kháng chiến nhưng bị địch càn quét giành giật nhiều lần; có lúc khu nhà trở thành trận địa, Bà vẫn sống ở đó. Đến năm 1968, khi cả Xã thành vùng oanh kích tự do của Mỹ - Ngụy, Bà cho tháo nhà thờ đưa ra xếp gọn ngoài Nổng Rừng (là khu nghĩa địa, có lẽ xa xưa là rừng) để tránh bom; nhưng rồi bị quân Mỹ - Ngụy đi càn đốt thành tro. Bà tản cư qua nhà một người cháu họ trong vùng địch kiểm soát và mất ở đó năm 1969, anh Bốn Khéo cùng mấy bà con trong xóm qua đưa bà về an táng ở quê.

𝑴𝒆̣ 𝒕𝒐̂𝒊 – 𝒌𝒉𝒐̂̉ 𝒉𝒂̣𝒏𝒉 𝒗𝒐̛́𝒊 𝒃𝒂̂̀𝒚 𝒄𝒐𝒏 𝒕𝒉𝒐̛

Ba và Mẹ tôi có cùng quê ngoại, cùng có hai người cha tham gia khởi nghĩa Duy Tân, cùng có anh và chị tham gia Hội Thanh Niên Cách mạng Đồng chí. Họ đã quen thân nhau từ khi 14 tuổi, khi cùng tham gia “thiếu niên đội” trong Phong trào 30 - 31. Ông ngoại sau khởi nghĩa Duy Tân, bị bắt, tra tấn, giam cầm rồi được tha về nhà dạy học, nhưng mất sơm; khi đó Mẹ tôi mới học đến lớp ba và phải nghỉ học. Hai chị của Mẹ đều là chiến sĩ công sản năm 1930 nổi tiếng với các sự tích lịch sử. Dì Ba – Mai Thị Thục, mới 17 tuổi đã tham gia tổ chức và cầm cờ đỏ búa liềm đẫn đầu đoàn biểu tình. Dì Hai – Mai Thị Én làm giao liên của Huyện ủy bị địch bắt tra tấn dã man, chúng đưa cả chồng là ông Nguyễn Chuân – Bí thư huyện ủy Sơn Tịnh, tra tấn vô cùng man rợ trước mặt bà; rồi đưa bà về thôn Nghiêm Quang treo lên cây đánh đập trước mặt mẹ già nhưng vẫn không lung lạc được ý chí kiên trung của bà. Hai người chị đã giác ngộ và rủ em tham gia cách mạng. Năm 1934, khi tổ chức Đảng được khôi phục, Ba tôi được kết nạp và được chỉ định làm bí thư Huyện ủy thì mẹ tôi trở thành “đối tượng” kết nạp Đảng của ông. Trong Hồi ký Ông viết: “Là một Đảng viên lúc đó đã là một hạnh phúc lớn lao. Nhưng với tôi hạnh phúc dường như được nhân lên bội lần, bởi chính trong những ngày tháng tìm đường đến với Đảng, với cách mạng, tôi đã gặp được người đồng chí, người bạn đời yêu dấu của mình – cô Mai Thị Triêm – con gái út của ông giáo Mai Xuân Huật.”

Ba mẹ cưới nhau năm 1934, đến 8/1956 mẹ tôi mất (lúc Bà 40 tuổi). Thời gian là 22 năm, nhưng họ chỉ được sống với nhau gộp lại không chắc đã được vài năm. Thời gian sống hạnh phúc với nhau sau khi cưới chỉ được sáu tháng. Ba mẹ tôi cùng nhau hoạt động xây dựng phong trào. Ba tôi kể, có lần phải bí mật đi xuống Tịnh Kỳ. Nửa đêm Ông cõng mẹ tôi lội qua sông Kinh. Đến giữa dòng sông nước sâu quá ngực, dưới ánh trăng mờ ông thấy có một vật đen đen như cái bộc dừa trước mặt, Ông quờ tay xua đi, không ngờ tay quơ vào một đám tóc của một người nữ chết trôi. Cái xác trồi lên, mẹ tôi thấy thế rú lên và siết chặt lấy cổ ông. Chuyện đau lòng, nhưng đây là mẩu chuyện duy nhất về thời gian mấy tháng từ khi cưới đến khi bị bắt mà ông kể tôi nhớ được.

Sau thời gian hạnh phúc ngắn ngủi ấy là sự chia ly suốt 8 năm. Tháng 5/1935 ba tôi đi tù đến cuối năm 1939, khi ông được tha về thì mẹ tôi lại bị bắt tù một năm. Khi mẹ được thả thì ba bị bắt đi an trí ở Ba Tơ. Căn An trí Ba Tơ đã đi vào lịch sử giải phóng dân tộc với cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ thàng 3/1945. Trong Hồi ký, Ba tôi đã kể về chế độ an trí qua lời tên Đồn trưởng Ba Tơ nói với tù nhân đi an trí: “Các anh đã mãn hạn tù Cộng sản; nhà nước bảo hộ Pháp cho về nhưng không thể để các anh lại gieo mầm Cộng sản; chúng tôi buộc phải đưa các anh lên đây. Sinh sống như thế nào, các anh tự lo liệu; có thể làm ruộng, chăn nuôi, làm thợ, buôn bán…cũng có thể đưa vợ con lên đây làm ăn lâu dài. Được đi lại làm ăn trong phạm vi có hạn quanh đồn; nhưng nên nhớ nhất nhất hàng ngày hai lần sáng, tối phải trình diện; đi quá một cây số phải xin phép quan đồn…”. Chị tôi và tôi ra đời là nhờ cái khoản “cũng có thể đưa vợ con lên đây làm ăn lâu dài…”. Thực ra tù nhân an trí làm ăn gì được ở cái thị trấn lèo tèo mấy nóc nhà trong một vùng núi hẻo lánh ở miền Tây Quảng Ngãi. Họ sống chủ yếu nhờ sự chu cấp của gia đình. Mẹ tôi phải nhiều lần khó nhọc lên thăm ông trong sự theo dõi của Sở Liêm Phóng.

Khoảng giữa năm 1943 khi an trí ở Ba Tơ, ba tôi bị thương hàn nặng, đã đen lưỡi, bệnh viện tỉnh Quàng Ngãi đã kêu “đem về chôn”. Ông được đưa về quê và nhờ đồng chí và gia đình lo chạy chữa cứu sống. Tôi ra đời cũng là lúc ông dần hồi phục và được đồng chí Trương Quang Giao mới được thả từ Nhà đày Buôn Mê Thuộc đầu năm 1944, bắt liên lạc. Sau đó đồng chí Trương Quang Giao lại bị bắt đi an trí Ba Tơ, tại đây ông đã lập lại và làm Bí thư Tỉnh ủy lâm thời từ tháng 12/1944. Qua năm 1945, Ba tôi được Tỉnh ủy phân công vừa lo hậu cần cho cuộc khởi nghĩa với vai trò thành viên ban Tài chính – Quân nhu tỉnh vừa làm Bí thư Tổng ủy Việt Minh Lệ Kỳ (vùng Đông huyện Sơn Tịnh). Trong thời gian này mẹ tôi làm Bí thư Hội Phụ nữ Cứu quôc xã. Hai người đang tuổi 30, cùng hăng hái tham gia chuẩn bị Khởi nghĩa và sau đó cùng ra sức xây dựng chính quyền mới non trẻ. Thời gian này, có lẽ là thời gian bận rộn nhất nhưng cũng hạnh phúc nhất của ba mẹ chúng tôi. Ba tôi vừa thoát bạo bệnh, con trai “trưởng nam” ra đời, lực lượng cách mạng lớn mạnh, Đất Nước giành được độc lập.

Tháng 10/1945 Ba tôi nhập ngũ vào chiến trường Cực Nam (Trung bộ) và bắt đầu một thời kỳ chia ly mới cho tới cuối năm 1947. Sau Khởi nghĩa mẹ tôi cùng mấy bạn hàng lập một tiệm tạp hóa ở chợ, nhưng chỉ được ít lâu bị ăn trộm sạch nên giải tán và chuyển qua gánh hàng xén, cái nghề bà vẫn làm từ nhỏ. Mặc dù lúc này đã có ba con nhỏ, nhưng do ở nhà đã có người giữ em, người lo cơm nước nên Bà có điều kiện làm công tác. Bà tiếp tục làm Chủ tịch hội Phụ nữ Cứu quốc xã, ủy viên Hội đồng nhân dân xã. Bà kể, một lần dẫn đoàn các bà các chị đi đào kênh Sơn Tịnh. Đây là công trình dẫn thủy nhập điền lớn của huyện Sơn Tịnh ngay sau Khởi nghĩa mà các hội đoàn cùng chính quyền vận động nhân dân góp công đào. Lúc đi trời còn tối. Khi đoàn đến khu đất được đồn là có nhiều ma cụt đầu, mọi người nhìn thấy phía trước một bóng hình trăng trắng mờ mờ trong sương. Ai đó kêu lên: “ma kìa!”. Đoàn người dừng lại. Bà tin là không có ma nên nói: “Được, để tui lên coi thử!”. Rồi bà mạnh dạn bước lên trước, hóa ra đó chỉ là một khối đá ánh lên màu trắng mờ trong đêm sương. Bà bước lên, đứng trên khối đá và hô mọi người đi lên. Tôi ba lần học chủ nghĩa Mác – Lên nin, nhưng khi phải đi đêm qua nghĩa địa vẫn rợn tóc gáy nên vẫn thầm trách mẹ đã không truyền cho tôi lòng can đảm để không sợ ma.
Ngày 1.8.1950, Ba tôi bí mật xuống thuyền vượt Biển Đông đi Trung Quốc rồi ở đến cuối 1953 mới về. Lúc ba đi mẹ tôi còn khỏe mạnh, tôi vẫn nhớ hình ảnh bà gánh hàng xén từ chợ về, khi đi ngang qua lớp, tôi liền chạy ra xin cây bút chì. Nhiều hôm chúng tôi ngồi trước ngõ, dõi mắt đến con đường đầu xóm chờ mẹ về. Năm đó mùa Đông đến với dịch ho gà, mấy chị em đều bị, cơn ho thường kéo dài, ho cả ngày lẫn đêm; em Dũng nặng nhất khạc ra cả máu. Thời gian đó mẹ mang bầu bé Kiên, Mẹ nói hầu như phải thức suốt đêm chăm sóc chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng mẹ tôi đã bị nhiễm lao từ hồi đó.

Cuối năm mẹ tôi sinh bé Kiên “mẹ tròn con vuông” nhưng bà không có sữa. Hồi đó ở quê không có sữa họp, chị tôi nhớ là đã xuống tận Mỹ Khê cách nhà 2 km để mua sữa dê nhưng chẳng được bao nhiêu, còn tôi hay cầm cái bình pha trà lên nhà cô Huynh cùng xóm xin sữa. Cô cũng mới sinh em bé, nhưng mỗi lần cô vắt cho cũng chỉ được vài muổng canh. Bé Kiên đói, rún lồi to như quả trứng gà, mắt cũng lồi to và khóc suốt ngày. Nay thấy hình mấy em bé Etiopi sắp chết đói trên mạng tôi lại nhớ tới bé Kiên hồi đó. Mấy tháng sau, ở xóm trong có cô Hai Sằm sinh em bé nhưng vừa ra đời đã chết; Mẹ tôi liền nhờ người mời. Cô Hai Sằm đến ở và nuôi Út Kiên bụ bẫm trở lại cho đến khi cai sữa. Em được cứu sống, nhưng mẹ đã lâm bệnh lao từ lúc nào không biết. Từ khi ở cữ Út Kiên vẫn thấy các cô y tá đến chích thuốc, nhưng sức khỏe của mẹ tôi ngày một xấu đi, Bà ho nhiều và chỉ làm được những việc nhẹ trong nhà. Lâm bệnh lao hồi đó hầu như không có thuốc đặc trị, mẹ tôi biết đều đó, nhưng Bà không thể không tiêm thuốc để làm chậm sự tiến triển của bệnh và cố sống chờ ba tôi về.

Mùa mưa 1952, do sợ giặc đổ bộ cướp đi hoặc đốt nhà, mẹ tôi giấu thóc ở một cái hầm ngoài Nổng Rừng. Khi nắng lên dở ra, toàn bộ số thóc ấy bị thối mục đen thui, coi như một vụ mùa mất trắng. Tôi nhớ sau đó cơm của chúng chỉ là khoai lang khô “cõng” mấy hột cơm. Túng bấn quá mẹ tôi phải bán sở ruộng bốn đám ở Ao Dài. Hay tin mẹ tôi bán ruộng, bà nội tôi tức tốc từ nhà bà bước nhanh lên nhà chúng tôi. Mẹ tôi đang ngồi xắt chuối cho heo bằng con dao cán dài, lưỡi to bản. Bà nội mắng mẹ tôi sao lại bán ruộng, không nghĩ đến bầy con lớn lên không có gì ăn. Tôi chưa bao giờ thấy bà nội giận như vậy, càng lời qua tiếng lại Bà càng giận.
- Mày đau bịnh thì mày chết đi còn hơn để cháu tao chết đói!
- Vậy mẹ chém tui chết luôn đi, tui cũng hết cách rồi!
Mẹ tôi vừa nói vừa ném con dao xuống nia hứng bả chuối đang xắt ngay trước mặt bà nội. Bà hằm hằm chụp lấy cán và vung dao lên, vừa nói như rít giữa hai hàm răng: “Tao chém chết mày! Tao chém chết mày!”. Nhưng rồi Bà quẳng con dao xuống, hậm hực bỏ đi. Tôi thấy Mẹ ngồi yên lặng nhìn con dao nằm trên đống bả chuối hồi lâu.

Thời gian ấy lũ chúng tôi hầu như không hay biết gì về nỗi lo của mẹ, chỉ lo chơi, hoang nghịch và gặp tai nạn. Tôi thì hay trèo cây và một lần “sa cành khế”, may mà rơi đúng vai anh Bốn Khéo đang đứng dưới đất “chỉ điểm” mấy trái khế chín, nên chỉ bị tức ngực, ngợp thở, phải vuốt liên tục một hồi mới hết. Em Dũng thì lấy cung tên của anh bắn trái bầu, tên trúng cây dàn bật lại vào mắt, làm mắt “kéo mây trắng”. Cô Sáu Giang đặt Dũng một bên, đồ đạc và gạo một bên, tôi đi theo đưa Dũng lên Phước Lộc cách nhà khoảng 20 cây số chạy chữa. Bệnh viện tỉnh có bác sĩ Soạn đang sơ tán ở đó. Hai anh em ở nhà bà cô cả tháng để chạy chữa, nhưng cuối cùng Dũng vẫn bị mù một mắt. Rồi vụ em Cảm (2 tuổi) cùng hai anh theo bà nội nhặt củi. Khi tôi cùng Bà đang lượm mắc tre trên vườn thì nghe Dũng kêu “Bà nội ơi! Thằng Cảm nó bơi”. Tôi và Bà chạy xuống thấy Cảm đang nằm ngửa quẫy tay quẫy chân trên mặt ao thật. Tháng 10 ao đầy nước, Bà nội vội lội xuống bám cây cọc giữ đợt tát nước, vươn ra túm được chân Cảm kéo nó lên. Tôi nhớ câu mẹ tôi dạy Cảm: “Bà Nội vớt lên, Bà Y dốc nước, ông Cận cõng về” mà nhớ bà nội và sự thương yêu đùm bọc của hàng xóm khi đó.

Khi ba tôi đi Trung quốc về là lúc bệnh của mẹ tôi chuyển nặng, Bà hầu như nằm một chỗ. Sau này ba tôi đã kể trong hồi ký: “Ghé thăm nhà chốc lát sau khi trình báo Bộ tư lệnh Liên Khu, tôi thực sự bàng hoàng trước cảnh vợ yếu đau bên đàn con thơ dại, kinh tế gia đình kiệt quệ…Gông cùm, đòn roi của kẻ thù cũng như giông bão giữa biển khơi không làm tôi mềm lòng. Nhưng giờ đây trước cảnh nhà đang hồi khốn khó, tôi không sao cầm được nước mắt”.
Qua năm 1953 Pháp tăng cường càn quét, bắn pha vùng tự do Liên Khu 5. Tôi một buổi đi học, một buổi chăn trâu. Máy bay Pháp mấy lần bắn trâu bò ở núi Ngang, ở ruộng Bờ Đắp tôi núp xem. Nơi chị tôi trọ học ở xã bên cũng bị ném bom. Ba tôi thì lại biền biệt ở chiến trường trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Sức khỏe mẹ tôi có khá hơn sau khi ba từ Trung Qốc về chạy thuốc cứu chữa. Nhưng theo yêu cầu của bác sĩ, mẹ tôi phải cho làm một cái nhà tranh vách đất trong Vườn Hoang để cách ly với đàn con nhỏ. Ngôi nhà tre cũng ba gian nhưng chỉ đủ kê hai chiếc giường đơn. Mẹ tôi nhờ một bà cô họ của ba tôi chăm sóc và cùng ngủ ở đó. Nhưng rồi chúng tôi không xa được mẹ, sáng ra đã kéo nhau vào với mẹ, đến chiều lại kêu khóc, đứa thì đòi ngủ với mẹ, đứa thì ngồi lỳ không chịu về ngủ ở nhà cũ. Sau cùng mẹ tôi phải cho làm thêm một cái chòi hình chữ A, lợp rạ và kê một bộ phản để chúng tôi ngủ lại. Mẹ cũng không chịu nỗi khi xa các con, vả lại ở gần còn để mắt trông nom. Mẹ tôi cũng biết giữ gìn nên chúng tôi không ai bị lây nhiễm. Mẹ tôi đã chiến đấu với bệnh tật cùng với những lo toan về kinh tế gia đình, về an toàn của bầy con và của chồng ở mặt trận. Những nỗi lo đó có làm cho bệnh tình của mẹ tôi nặng thêm không?

Tết Ất Mùi (1955) là cái Tết hòa bình đầu tiên sau chín năm chiến tranh chống Pháp, là cái tết sum họp của nhiều gia đình, nhưng lại là cái tết ly tán của nhiều gia đình khác ở cả hai miền Nam Bắc, trong đó có gia đình chúng tôi. Lúc đó ba tôi đóng quân trong khu vực 300 ngày theo hiệp định Giơnevơ tại Quy Nhơn. Bé Cảm ở với Ba. Bà nội, mẹ và bé Kiên ở quê. Tôi, Chị Tuyết và Dũng ở Diễn Châu Nghệ An. Sau đó mẹ và bé Kiên vượt tuyến vào khu 300 ngày rôi đi tập kết rồi nằm bệnh viện Miền Nam Thanh Hóa. (Ảnh 3). Đến tháng 5/1955 tôi và chị Tuyết được chuyển qua Khu học xá Trung ương Nam Ninh, Trung Quốc; ba tôi với Cảm và Kiên đi chuyến tàu cuối cùng ra Bắc và đóng quân ở Thanh Hóa. Sau đó Ông đã gởi Kiên ở nhà Trẻ Vườn Hoa Thanh Hóa, Cẩm ở trường Thống Nhất Thanh Hóa, Dũng từ Nghệ An cũng được chuyển học lớp 1, trường Miền Nam số XI, Như Quỳnh Hưng Yên. Thời gian trôi đi, gia đình mỗi người một nơi mãi đến bây giờ. Nhớ lại, hóa ra từ 1945 đến nay, nhà chúng tôi chỉ có một cái tết Mậu Tý (1948) là có đông đủ bà nội, ba, mẹ và các con (dù lúc đó chưa có Cẩm và Kiên).
Mẹ tôi được chuyển về bệnh viên A Hà Nội khoảng đầu năm 1956. Trong thư đề ngày 9/3/1956 gởi cho tôi, mẹ tôi (ở nhà chúng tôi gọi là me) viết: “…Còn me từ hôm ra Hà Nội đến nay đã khỏe nhiều, ở đây đủ phương tiện điều chữa nên mau lành lắm, song với bệnh me vì đau lâu nên lành cũng lâu, có lẽ một năm nữa cũng đã nhanh lắm đấy. Phổi me chiếu điện thì phổi trái nám hết, còn phổi mặt nám một nửa, vừa rồi chiếu lại phổi có hơi mờ, có tiến bộ, lúc này me ăn được, ngủ được. Ở đây tuy lạnh nhưng được sự chiếu cố của Bác, Chính phủ, Đảng, săn sóc bệnh nhân rất là chu đáo, … Với phương pháp mới của các nước bạn và kinh nghiệm của 20 năm chuyên trị bệnh phổi của bác sỹ Phạm Ngọc Thạch là quản đốc bệnh viện này rất có kết quả, đứng đầu thế giới đấy. Rất tin tưởng…”. Từ cuối 1955 ba tôi cũng được chuyển về công tác tại Hà Nội, thường xuyên đến thăm mẹ tôi. Trong những bức thư ông viết cho chúng tôi, có khi là viết tiếp sau bức thư viết sẵn của mẹ tôi, cũng đều thể hiện sự tin tưởng mẹ tôi sẽ khỏi bệnh, sẽ tiếp tục công tác. Nhưng đột nhiên vào đầu tháng 9/1956, chúng tôi nhận được thư ông báo tin mẹ chúng tôi đã mất.

Sau này gặp lại, ba tôi đã kể về phút cuối cùng của mẹ. Lúc lâm cung mẹ tôi rất tỉnh táo, sau khi nói những lời cuối cùng nhờ ba tôi chuyển đến cho các con, mẹ yên lặng để bàn tay gầy guộc trong tay ba, rồi mở mắt nhìn ba nói: “Mình coi, chân tui chết rồi đó”. Ba đưa tay nắm bàn chân lạnh ngắt của bà, rồi tay bà cũng lạnh dần…Ba tôi không kể lại việc lúc đó ông đã khóc như thế nào. Nhưng qua lá thư còn nhòe nước mắt gởi chúng tôi và nội dung mấy bức thư sau đó viết về mẹ tôi, chúng tôi hiểu sự mất mát và đau khổ vô cùng của ông. Như ông đã nói, mẹ tôi vừa là người vợ diệu hiền, vừa là người bạn thân thiết vừa là đồng chí kiên trung vô cùng yêu quý của ông.

𝑴𝒆̣ 𝒌𝒆̂́ - 𝒌𝒉𝒐̂̉ 𝒉𝒂̣𝒏𝒉 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒏𝒐̂̃𝒊 đ𝒂𝒖 𝒓𝒊𝒆̂𝒏𝒈

Hơn một năm sau khi mẹ tôi mất, ba tôi báo tin ông đã chọn được mẹ mới cho chúng tôi. Khi đó chị tôi đã 15 tuổi và “cầm đầu” sự phản đối. Có lẽ do chúng tôi chưa nguôi được nỗi đau mất mẹ và luôn nghĩ không ai có thể thay được mẹ nên rất bất bình với cái từ “mẹ mới” trong thư ba; ngoài ra cũng có chút ảnh hưởng của truyền thống phải để tang ba năm nữa. Ba tôi đã viết một lá thư dài để giải thích và sau đó chúng tôi đều thông cảm. Lớn lên chúng tôi mới hiểu, thực sự ba tôi không chỉ kén vợ mới mà còn là chọn mẹ kế cho chúng tôi. Ông mới 41 tuổi, cán bộ cao cấp, bảnh trai nhưng phải chọn một người phù hợp với một bầy 5 đứa con.
Mẹ kế Trần Thị Thí quê Triệu Phong, Quảng Trị, sinh năm 1925, gia đình nông dân nghèo, mồ côi cha mẹ, thoát ly làm liên lạc cho cách mạng từ 15 tuổi. Bà được kết nạp Đảng năm 1941; từng bị bắt, bị tra tấn, tù đày ở nhà lao Quảng Trị một năm. Trong kháng chiến chống Pháp bà công tác ở Khu 4 và có chồng bị mất sớm. Bà cũng được đi học chính trị ở Trung Quốc 2 năm, trở về công tác ở Vĩnh Phúc, sau đó về Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam. Sau khi lấy Ba tôi một năm bà được chuyển về làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ Nữ Hải Dương. Khi Hải Dương và Hưng Yên sát nhập, bà là Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tich Hội Liên hiệp Phụ nữ Hải Hưng cho tới khi nghỉ hưu 1985. Tính ra bà có tới 5 nhiệm kỳ Chủ tịch hội Phụ nữ tỉnh. (Ảnh 4).

Lần đầu tôi gặp mẹ kế là năm 1958, mùa Hè năm đó Khu học xá Nam Ninh giải thể, chúng tôi về Nước đoàn tụ gia đình tại nhà khách Cục Nông Binh (sau đổi thành cục Nông trường quân đội). Hết nghỉ hè chúng tôi ai về trường nấy, trừ bé Kiên. Chúng tôi gọi bà là mẹ vì đơn giản bà là vợ của ba chúng tôi và cũng có tuổi để được gọi là mẹ. Bà đã rất cố gắng để thân thiện với bầy con chồng khó tính và ngỗ nghịch. Có lần tôi lấy xe đạp của bà tập đi rồi đâm vào tường rào gảy cổ xe, bà cũng chỉ cười. Bà rất ít kể chuyện về mình, trừ chuyện bị địch tra tấn khi bị bắt và bị đàn áp man rợ khi tù nhân đấu tranh như đổ nước hầm cầu lên đầu tù nhân, ngập cả sàn phòng giam. Những mẩu chuyện đó làm tôi kính trọng bà hơn.
Cuối năm 1958 ba tôi dọn về ở 25 Phan Đình Phùng. Qua năm 1959 mẹ kế sinh bé Liên và chuyển về Hải Dương. Từ đó mỗi lần từ Trường Sơn về Hà Nội ba tôi đều phải đi Hải Dương thăm bà. Đến năm 1985 bà về hưu ông bà được đoàn tụ về Hà Nội. Nhưng cũng khoảng năm đó ba tôi bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người và mươi năm sau, bị tai biên lần hai thì nằm liệt một chỗ. Mẹ kế đã tận tình chăm sóc ba tôi cho đến khi ông qua đời năm 2008.

Tuy nhiên nỗi bất hạnh lớn nhất của mẹ kế tôi là bé Liên, đứa con gái duy nhất của bà. Bà có con nhưng gần như không được làm mẹ; chưa bao giờ được đứa con do chính mình đẻ ra gọi một tiếng “Mẹ”. Em bị bệnh Down, được một tuổi còn bị viêm não Nhật Bản; không chỉ thiểu năng trí tuệ mà còn không biết nói. Ba mẹ tôi phải thuê người chăm sóc em. Có lẽ công tác và việc nhà sau này bận rộn đã giúp vơi đi nỗi đau riêng của bà. Sau khi ba tôi mất, Bà sống lặng lẽ với đứa con câm lặng, tật nguyền cùng một người giúp việc tận tình cho đến khi qua đời ở tuổi 89./.

Võ Kim Cương - 7/2021.

Nguồn: https://www.facebook.com/kimcuong.vo.376/posts/3101044953506775

Thiếu tướng Võ Bẩm – Người “khai sơn phá thạch” đường Trường Sơn 15/11/2021

"Thiếu tướng, anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân Võ Bẩm là người “khai sơn phá thạch” đường Trường Sơn. Ông là một trong những người đặt nền móng cho việc hình thành một binh đoàn vận tải chi viện chiến lược mà chiến công vang dội của nó đã đi vào lịch sử."

Nguồn: Quân Đội Nhân Dân Media

Thiếu tướng Võ Bẩm – Người “khai sơn phá thạch” đường Trường Sơn Thiếu tướng, anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân Võ Bẩm là người “khai sơn phá thạch” đường Trường Sơn. Ông là một trong những người đặt nền móng cho việc hình thành một binh đoàn vận tải chi viện chiến lược mà chiến công va...

17/07/2021

BA TÔI - NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

Tác giả: Võ Kim Cương

Lại sắp đến ngày giỗ Ông. Như các năm trước con cháu ông từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cùng tụ tập về quê Quảng Ngãi, nơi có nhà thờ Tổ và nhà lưu niệm về Ông. Nhưng năm nay dịch covid – 19 đang diễn biến phức tạp, chúng tôi đành “ở nhà là yêu Nước”, các gia đình nhỏ sẽ thắp nhang tưởng nhớ ông ở nhà riêng của mình. Thắp nhang và chiêm nghiệm cuộc đời oanh liệt của Ông.

Về Thiếu tướng Võ Bẩm – người chỉ huy mở đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh để đưa lực lượng Miền Bắc hỗ trợ Miền Nam chống Mỹ, thống nhất đất nước đã được nhiều sách báo trong và ngoài nước nhắc đến cùng với lịch sử đường Trường Sơn huyền thoại. Trong tư liệu viết về Ông, đáng chú ý nhất là tập hồi ký “Những nẻo đường kháng chiến”. Lúc sinh thời ông có lẽ đã thấy trách nhiệm phải ghi lại quá trình hoạt động của bản thân và đồng đội để con cháu biết; nên mặc dù bị tai biến mạch máu não liệt nửa người ông vẫn cố gắng kể cho người cháu họ ghi lại những gì Ông nhớ. Người cháu đó là anh Tô Ấn Quyết, con trai người bạn tù và anh em cột chèo với ông là ông Tô Đình Biểu. Năm 1954, Dì Dượng tôi chỉ gởi một mình anh Quyết (lúc đó 11 tuổi) đi tập kết còn họ ở lại hoạt động và đều đã mất trong thời gian chiến tranh. Trên cơ sở tập tư liệu anh Quyết ghi được, nhà văn Duy Tường đã đối chiếu với các tư liệu lịch sử khác, chuyển thành tập hồi ký của Ông. Rất nhiều tư liệu quý giá về đời sống và cuộc đấu tranh giành độc lập, kháng chiến chống Pháp, mở đường Trường Sơn chống Mỹ đã được ghi lại trong tập hồi ký này. Chúng tôi rất biết ơn Ông về việc đó.

Vào dịp kỷ niệm 100 năm sinh của Ông, đồng thời cũng là 100 năm mất của ông nội chúng tôi (một chỉ huy quân khởi nghĩa Duy Tân ở Quảng Ngãi năm 1916), tôi đã tập hợp thêm tư liệu về ông bà cha mẹ và xuất bản tập sách “Ký ức về gia đình thiếu tướng Võ Bẩm”. Đây là tập tài liệu về ông bà nội ngoại, những bức thư của ba mẹ gởi cho chúng tôi, trích đoạn hồi ký những người cùng công tác với Ba tôi và cả những kỷ niệm đáng nhớ của chúng tôi về ba mẹ.

1. 𝑻𝒖̛̀ 𝒏𝒉𝒐̉, 𝑩𝒂 𝒕𝒐̂𝒊 𝒍𝒂̀ 𝒕𝒉𝒂̂̀𝒏 𝒕𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 𝒄𝒖̉𝒂 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒐̂𝒊

Mọi người ai cũng có cha mẹ, ai cũng nhớ ơn cha mẹ và có thể tự hào về cha mẹ, nhưng với tôi, ba tôi còn là thần tượng của cuộc đời mình. Tôi trở thành “fan” của Ông bởi những gì tôi biết và những gì mọi người kể về Ông.

Ông không phải nghệ sĩ tài ba hay danh thủ bóng đá kiệt xuất, nhưng Ông là một tráng sĩ oai hùng. Ở tuổi thanh niên Ông cao 169 cm và nặng khoảng 70 kg. Ông có khuôn mặt chữ điền, mày rậm, mắt sáng, râu quai nón, người vạm vỡ cân đối trong bộ quân phục vệ quốc đoàn oai vệ. Ở thế hệ Ông nam giới trung bình chỉ cao 160 cm và chỉ nặng 50 kg. Bộ đội chỉ cao hơn 155 cm là được tuyển rồi. Lâu nay do có ấn tượng người Việt nhỏ con, thể lực yếu nên khi xem bản so sánh giữa đội tuyển bóng đá Việt Nam với đội tuyển UEA trước trận đầu loại Wordl cup mới đây tôi bất ngờ khi thấy tầm vóc đội tuyển Việt đã cao trung bình 176,7 cm, hơn UEA chỉ 175,5 cm. Đúng là sau khi giành được độc lập thống nhất người Việt đã “lớn lên” thấy rõ.

Ba tôi cao to và mạnh mẽ. Ông kể chuyện khi đi làm rể (tức là trước khi cưới chàng rể phải về làm cho nhà gái mấy ngày), bị các cô bên nhà gái thách Ông đã ăn hết cả một mâm cơm thợ gặt. Nhưng ông cũng khiêm tốn: “Tao vẫn không bằng ông Cả Đong, ổng ăn hết một vành nong chè luôn!”. Ở quê tôi người ta dùng nong (giống cái nia, có đường kính cỡ một sải tay) để phơi thóc lúa, khoai sắn, đậu, bắp v,v... Ăn hết số bát chè nếp ngọt lừ xếp giáp vòng một vành nong thật là kinh khủng. Người ta đồn rằng ở cái xứ “chó ăn đá, gà ăn muối”, do ăn toàn khoai, bắp mà ruột người xứ Quảng dài hơn nơi khác cả thước nên ăn rất khỏe (!?). Các cụ cùng thế hệ ông cũng thường kể với tôi rằng Ông đã từng nắm sừng, vít cổ con trâu đực để người ta thiến. Khi đọc câu “Tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu” tôi thường nhớ tới chuyện này.

Chính tôi cũng đã từng thử sức với Ông. Một hôm thấy tôi tập tạ đôi ở hiên nhà, Ông đứng nhìn rồi vừa mỉm cười vừa bảo: “Mày có giỏi thử bẻ gập cánh tay tao xem sao!”. Nói rồi ông dũi thẳng cánh tay trước mặt tôi. Tôi đặt ngửa cánh tay ông lên vai rồi đưa hai tay đặt lên khuỷu tay ông và lấy hết sức kéo xuống, cố sức mấy lần cánh tay ông vẫn thẳng đơ. “Rồi! đến lược tao, mày dũi thẳng tay ra đi!” Tôi nắm chặt bàn tay, gồng mình dũi thẳng cánh tay về phía Ông. Ông chỉ dùng bàn tay phải to lớn của mình nắm bàn tay đang nắm chặt của tôi rồi vừa bóp vừa gập cánh tay tôi lại. “Thanh niên gì mà yếu nhớt, thôi ráng tập nữa đi!”.

Không những mạnh như lực sĩ ông còn có võ nữa. Trong hồi ký Ông kể hồi nhỏ Ông không được đến trường, mãi đến khi làm Phân khu trưởng Phân khu 15 Tây Nguyên (1949) mới được “cắp sách đi học” để được chứng nhận hết lớp 3. Sau đó, khi ở Đoàn 559 mới đươc Giáo viên văn hóa của đơn vị “dạy kèm” đến lớp 6 (học vấn thấp là một yếu điểm quan trọng của Ông). Đọc hồi ký mọi người dễ lầm là do gia đình nghèo khó nên thất học; sự thực Ông thất học không phải vì gia đình nghèo khó, mà là từ nhỏ Ông không chịu đi học chữ của Tây. Ông chỉ muốn học võ để đánh Tây. Chiều con, Bà nội tôi đã mời thầy về dạy võ, nhưng thầy sức yếu bị Ông đánh ngã khi tập nên không dạy ông nữa. Ông đã lén lấy tiền của mẹ trốn vào Bình Định học võ. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ nghe ông kể đã đánh thằng Tây nào, kể cả thời gian tù đày, mà chỉ nghe kể phải gồng mình chịu đòn của chúng. Tuy vậy, Ông đã kể có ông anh con bà cô (tôi gọi ông đó bằng bác) làm mật thám cho Pháp; một hôm gặp Ông trên đường đi cày; Ông đặt cày xuống hỏi tội, nói qua nói lại sao đó rồi bị Ông đánh một bạt tai. Không biết có phải do quá sợ hãi mà ông anh này sinh bệnh rồi chết, để bà cô cứ hận Ông hoài.

Tôi thường nhớ hình ảnh Ba tôi mặc quân phục đi ngựa. Tôi vẫn còn nhớ tên các con ngựa lần lượt được nuôi ở nhà là con Tía, con Hồng, con Bạch. Ông đã cho tôi ngồi trước bụng và đưa tôi về thăm bà Ngoại trên lưng con ngựa Bạch, lúc đó tôi đã 5 tuổi nên còn nhớ hình ảnh rừng cây mắm và dừa nước bên Bờ Đắp với dòng sông Kinh lấp loáng trong nắng sớm khi chúng tôi đi qua.

2. 𝑮𝒊𝒂 đ𝒊̀𝒏𝒉 𝒍𝒂̀ 𝒄𝒂̆𝒏 𝒄𝒖̛́ đ𝒊̣𝒂 𝒄𝒖̉𝒂 𝑩𝒂 𝒕𝒐̂𝒊

Nhìn lại cuộc đời hoạt động của Ba, tôi thấy có vẻ như giữa công và tư không thật rạch ròi, (nhưng không phải theo kiểu nhập nhèm “dĩ tư vi thượng” của những kẻ trục lợi chui vào Đảng hiện nay). Ngày xưa đi làm cách mạng không chỉ là cá nhân tự nguyện dấn thân “gươm kề tận cổ súng kề tai, là thân sống chỉ coi còn một nửa” (Tố Hữu), mà cả gia đình và tài sản cũng phải chịu hy sinh.

Đọc “Những nẻo đường kháng chiến” tôi mới biết tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam ở Quảng Ngãi đã “chết đi sống lại” nhiều lần. Tỉnh bộ Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam (Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội) với các chi bộ “dự bị Cộng sản” do Trương Quang Trọng làm bí thư Tỉnh bộ bị xóa sổ tháng 10 năm 1929; Bí thư Tỉnh bộ và nhiều cán bộ nòng cốt bị bắt và bị tù. Trong tù, Bí thư Trương Quang Trọng và nhiều người không chịu được chế độ tù ngục đã bỏ mạng, trong đó có anh ruột ba tôi là bác Võ Khoa. Đến tháng 3 năm 1930 một số thành viên còn lại của Hội đã thành lập chi bộ chính thức đầu tiên và Tỉnh ủy đầu tiên của Đảng Công sản Đông Dương ở Quảng Ngãi. Tỉnh ủy đầu tiên đã làm nên phong trào cách mạng (1930 – 1931). Nhưng rồi Tỉnh ủy này cũng bị xóa sổ, Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Nghiêm bị tử hình, các tổ chức đảng và tổ chức quần chúng bị giải tán. Đến đầu năm 1934 những người cộng sản trung kiên mới móc nối lập lại Tỉnh ủy lâm thời do Phạm Xuân Hòa làm bí thư, nhưng đến tháng 5/1935 Bí thư và hầu hết Tỉnh ủy viên đã bị bắt trong vụ án “Tái tổ cộng sản”, trong đó Ba tôi bị tòa án Nam Triều kết án 12 năm khổ sai và tịch thu toàn bộ gia sản. Từ đây đến Cách mạng Tháng 8, Tỉnh ủy Quảng Ngãi còn bốn lần bị xóa sổ rồi “tái tổ” nữa (vào các năm 1936, 1940, 1943, 1944). Lần cuối là tháng 12 năm 1944, Tỉnh ủy lâm thời do đồng chí Trương Quang Giao làm Bí thư, đã lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ và cách mạng Tháng 8 thành công. Trước Cách mạng Tháng 8 những người dấn thân hoạt động cách mạng đều sống dựa vào gia đình, ăn cơm nhà làm việc Nước.

Trước Khởi nghĩa đã vậy, sau Khởi nghĩa khi Ba tôi nhập ngũ và được điều vào Nam Trung Bộ, Ông đưa cả ngựa và anh Hai Y – người ở chăn ngựa đi cùng.Thời kỳ ấy có lẽ ngựa là phương tiện đi lại như xe cá nhân bây giờ. Tuy nhiên muốn đi ngựa phải nuôi ngựa và có người chăn dắt, cắt cỏ ngựa. Một thời gian sau anh Hai Y bị sốt rét, da vàng bủng phải giải ngũ về quê. Trong chống Mỹ anh và gia đình bám trụ cùng bà con hàng xóm giữ vững khu căn cứ kháng chiến của địa phương. Trong một lần tôi về thăm trước khi anh mất ít lâu, anh mới nói với tôi rằng anh không được chế độ đãi ngộ gì. Tôi thấy có lỗi với anh, vì không sớm biết và giúp anh làm giấy chứng nhận về mấy năm ở bộ đội thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp. Nhưng tôi không biết anh có được nhập ngũ chính thức hay vẫn chỉ ở vai trò người chăn ngựa cho Ba tôi và cũng không hiểu tại sao Ba tôi không chứng nhận được gì cho anh. Ở quê tôi, nhiều du kích sau hàng chục năm chiến đấu anh dũng cũng không được hưởng chế độ gì, ngoại trừ thẻ thương binh và sổ bảo hiểm y tế.

Ông bà nội tôi thuộc loại khá giả, ruộng vườn vài chục mẫu, nhưng qua hai án tù của Ba và bác tôi và mấy lần thuốc thang cho hai ông mà trở nên suy kiệt. Ba tôi mạnh nhưng không khỏe, mỗi lần lâm bệnh nặng lại rút về “căn cứ địa” gia đình. Lần thứ nhất là vào cuối năm 1939, ở nhà đày Buôn Mê Thuộc ông bị đau đầu và lưng do chấn thương, bị sưng lá lách do sốt rét phải nhờ gia đình lo lót để được tha trước hạn tù và mời bác sĩ từ Quảng Nam vào trị bệnh. Lần đau bịnh “thập tử nhất sinh” thứ hai là khi đang bị đày ở căn An trí Ba Tơ Ông bị bệnh thương hàn rất nặng phải xin đồn an trí và sở mật thám về nhà; trong Hồi ký của Ông có viết “mẹ và vợ tôi lại phải bán đi một ít ruộng, lấy tiền lo lót cho xong việc”. Lần thứ ba là cuối năm 1947, khi là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 79 ở Phú Yên, ông bị sốt rét nặng, sưng lá lách. Con ngựa Ông mang từ nhà lúc nhập ngũ được anh Thụy (chiến sĩ cần vụ) dắt bộ đưa Ông đêm đi ngày nghỉ suốt một tuần từ Củng Sơn ra Bồng Sơn rồi lên tàu lửa về Quảng Ngãi. Lần đó Ông được nghỉ dưỡng bệnh ở nhà, do mẹ và vợ chăm sóc 3 tháng.

Gia đình không chỉ là “cơ sở chữa bệnh”, trong quá trình hoạt động ba tôi còn có hai lần lấy nhà riêng làm căn cứ xuất phát cho những nhiệm vụ trọng đại.

Lần thứ nhất là tháng 5 năm 1950, khi được giao nhiệm vụ mở đường vượt biển qua Hải Nam Trung quốc xin viện trợ, Ông đã lấy nhà mình ở Tịnh Khê Quảng Ngãi làm địa điểm chỉ huy, huấn luyện và chuẩn bị cho chuyến đi. Sau mấy tháng chuẩn bị (đóng thuyền, tuyển người, học tiếng... ) đầu tháng 8 năm 1950 đoàn công tác lên đường vượt biển bẳng thuyền nhỏ 5 tấn. Lần đó đi sáu thuyền, có ba thuyền bị địch chặn bắt, ba thuyền vượt được đến Hải Nam. Lúc này tôi đã 7 tuổi, nên đến nay vẫn còn nhớ tên mấy chú bộ đội trong đoàn thường hay chơi với tôi khi đó như chú Đẩu, chú Đạt; nhưng tôi chưa đủ khôn để hiểu nỗi niềm của ba tôi, khi phải xa người mẹ đang đau yếu và người vợ đang mang bầu cùng 4 bốn đứa con nheo nhóc.

Lần thứ hai là vào năm 1959, khi nhận nhiệm vụ mở đường “Vận tải quân sự đặc biệt”, Ông cũng lấy nhà riêng ở 25 Phan Đình Phùng Hà Nội làm điểm tập hợp lực lượng, khoảng chục người tổ chức ăn ngủ và làm việc ngay trong nhà. Thời gian này tôi học ở trường Học sinh Miền Nam số 27, nghỉ hè đượcvề ở nhà. Tôi nhớ những cán bộ đầu tiên của Đoàn 559 lúc đó và thường gần gũi nói chuyện với chú Hào (anh nuôi), chú Lệ (cần vụ). Tôi đã gặp nhiều người đến nói là muốn gặp Ba tôi để xin trở về Nam. Tôi còn đọc trộm thư của nhiều người gởi cho Ba tôi mà xem xong Ông để trong ngăn kéo bàn làm việc ở nhà. Tất cả đều với tâm huyết được về chiến đấu giải phóng quê hương.

3. 𝑩𝒂 𝒍𝒂̀ 𝒕𝒉𝒂̂̀𝒚 𝒄𝒖̉𝒂 𝒄𝒉𝒖́𝒏𝒈 𝒕𝒐̂𝒊

Ba tôi là một trí thức đa nghệ có “bằng” lớp 6 bổ túc văn hóa. Hồi nhỏ tôi vẫn khoe mẽ với lũ bạn; “Chẳng bố thằng nào bằng bố tao!” rổi kể ra nào là ông ấy có võ, giỏi nấu ăn, nào là biết tiêm thuốc, hớt tóc, lái xe, biết cưỡi ngựa và bắn súng …Hồi đó tôi không biết Ông học đến lớp mấy, chỉ nghĩ Ông là người có học bởi những điều Ông dạy bảo và phong cách tử tế của ông. Tính ông quyết đoán nhưng tôi chưa bao giờ nghe ông nói tục chửi thề. Ông sống chân tình, vui vẻ được mọi người xung quanh quý mến nể phục. Tôi nhớ khi còn ở Hà Nội, có một chú đến thăm Ba tôi, lúc về tự nhiên chú ấy nói nhỏ vào tai tôi: “…Người như ba cháu làm đày tớ cho ổng cũng sướng”.

Lớn lên càng về sau càng thấy Ba tôi thực sự là một trí thức mà kiến thức có được chủ yếu là nhờ luôn luôn học hỏi. Ông chưa bao giờ tự coi mình là trí thức. Trong lý lịch Ông khai trình độ văn hóa lớp 6. Khi coi Ông là một trí thức tôi phải tra từ điển về từ “trí thức”. Trong Wikipedia (bách khoa toàn thư mở) có định nghĩa: “Trí thức là người có kiến thức sâu xa về một hay nhiều lĩnh vực hơn sự hiểu biết của mặt bằng chung của xã hội vào từng thời kỳ”. Như vậy không phải có bằng cấp (ví dụ có bằng đại học trở lên) mới gọi là trí thức, mà chỉ cần có hiểu biết uyên thâm hơn người và có văn hóa thể hiện sự hiểu biết đó. Kiến thức chủ yếu của Ba tôi là về xã hội, về đấu tranh cách mạng. Ông học ở đâu? Về đạo đức lễ nghĩa và cách ứng xử tử tế ở đời có lẽ do bà nội tôi dạy bảo, vì bà xuất thân từ gia đình gia giáo. Còn kiến thức cách mạng là từ phong trào, từ tù ngục và hai năm học chính trị ở Trung Quốc. Về quân sự Ông cũng không được học qua trường sĩ quan nào, chỉ được học qua bạn tù trong thời gian ở Nhà đày Buôn Mê Thuộc, nhưng Ông đã là làm chính ủy, đã là chỉ huy cấp chiến dịch và hiểu biết sâu xa về khoa học chiến lược chiến dịch quân sự.

Thật ra tôi ít được sống với ba, khi tôi ra đời ông đang bị an trí ở Ba Tơ, khi được 2 tuổi Ông đã đi bộ đội, rồi tập kết ra Bắc và lớn lên ở các trường nội trú Học sinh Miền Nam, ở ký túc xá trường đại học, rồi sơ tán, rồi nhập ngũ và chuyển vào Tp Hồ chí Minh cho tới nay. Có lẽ thời gian được ở với Ba lâu nhất mà tôi nhớ được là mấy tháng Ông nghỉ chữa bệnh ở quê cuối năm 1947 đầu năm 1948 và sau này là những dịp nghỉ hè, nghỉ Tết. Năm chị em chúng tôi đều cùng hoàn cảnh đó. Trong hoàn cảnh đó, một cách tự nhiên khi có dịp Ông đều chỉ bảo hay tạo điều kiện cho chúng tôi học hỏi. Ví dụ, tôi vẫn nhớ kỳ nghỉ hè lớp 7, năm 1958, lúc đó Ông làm Cục phó Cục Nông trường quân đội, Ông cho tôi đi theo trên chiếc commanca đít vuông đến các nông trường quân đội ở Tây Nghệ An. Lần đó tôi được trải nghiệm về rừng núi Trường Sơn, về nông trường và qua câu chuyện Ba tôi nói với với các chú bội đội Miền Nam tập kết nay là nông trường viên, tôi biết thêm nỗi niềm “ngày Bắc đêm Nam” của họ. Nhờ đó khi học tập chính trị về đấu tranh thống nhất nước nhà, tôi càng hiểu thêm quyết tâm và ý chí của Đảng. Ba tôi đã dạy dỗ chúng tôi qua thư từ, qua các cuộc họp gia đình, qua các câu chuyện ông kể …Tôi không nhớ Ông đã nói khi nào nhưng những câu như: “Thà chịu cực, không chịu nhục”, “Phải tốt ngay ở những việc mình làm”… đã thành những chỉ dẫn cho chúng tôi trong cả cuộc đời.

Chúng tôi trưởng thành và đều thành đạt là nhờ sự giáo dục của nhà trường nhưng cũng là nhờ tình thương, tấm gương và sự dạy dỗ của Ba tôi./

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


25A Phan Dinh Phung, Ba Dinh
Hanoi