Dưỡng Sinh Công

Dưỡng Sinh Công

Share

Phương pháp tập dưỡng sinh khai thai thông kinh lạc trong cơ thể, hướng tới đạt trạng thái an lạc trong cuộc sống.

Phương pháp tập được lấy từ các môn Võ cổ truyền và phương pháp Đạo dẫn.

05/06/2026

Tản mạn cuối tuần về phép BẾ KHÍ
-------------
BẾ KHÍ không đơn giản là "nín thở" theo nghĩa thông thường mà là một kỹ thuật tinh vi phối hợp giữa thân hơi thở - tâm ý.

Có thế nói luyện Thổ-Nạp mà không rành về Bế khí thì là một thiếu sót rất lớn.

Theo tài liệu cổ xưa tìm được hoặc còn lưu đến ngày này, các cụ không nói về những từ như "khí công" "nội công" hay "đạo dẫn".. mà các cụ ghi lại truyền cho hậu thế các phương pháp bí truyền hầu hết đều liên quan đến "BẾ KHÍ".

Theo sử liệu cổ, người đầu tiên được ghi nhận thực hành bế khí là Bành Tổ , vị thần trường thọ huyền thoại.
Sách Thần Tiên Truyện chép rằng ông "thường đóng khí nội tức, từ sáng đến trưa, rồi ngồi ngay thẳng lau mắt".

Đến thời Chu U Vương, có dị nhân Chương Chấn được ghi lại là "đôi khi đóng khí không hít thở, người cử nhấc không dậy, xô đẩy không ngã, co duỗi không nổi, có thể kéo dài hàng trăm ngày"

Bão Phác Tử Nội Thiên của đạo sĩ Cát Hồng, được mô tả là:
"thiên địa chi đại bí" (bí mật lớn nhất của trời đất) và là sự trở về trạng thái hơi thở như trong bụng mẹ - chính là hình thức cao nhất của bế khí hãy còn gọi là "Thai tức"

Nếu nói đến kinh điển cổ xưa nhất nói về thuật Bế Khí chính là "Hành Khí Ngọc Bội Minh" - Đây là văn vật khí công lý luận cổ nhất còn tồn tại của Trung Quốc, được khắc trên một trụ ngọc 12 mặt thời Chiến Quốc, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Thiên Tân.

Những câu ghi trong ngọc bội này rất ngắn gọn, sâu lắng .. cũng có thể là những tâm đắc rất lớn mà người xưa để lại. Xin ghi ra đây để tham khảo:

行氣,深則蓄,蓄則伸,伸則下,下則定,定則固,固則萌,萌則長,長則退,退則天。天幾舂在上;地幾舂在下。順則生;逆則死。

phiên âm:

"Hành khí, thâm tắc súc, súc tắc thân, thân tắc hạ, hạ tắc định, định tắc cố, cố tắc manh, manh tắc trưởng, trưởng tắc thoái, thoái tắc thiên. Thiên kỷ xung tại thượng; địa kỷ xung tại hạ. Thuận tắc sinh; nghịch tắc tử."

Dịch nghĩa:

Vận hành khí (bắt đầu thực hành)
Hít thật sâu thì khí được tích chứa
Khí tích đầy thì duỗi lan ra
Duỗi lan thì khí xuống dưới
Xuống thì an định ( ở đan điền)
An định thì cố kết bền vững
Bền vững thì nẩy mầm (khí bắt đầu thăng)
Nẩy mầm thì lớn dần lên
Lớn lên thì rút lui (thuận theo mạch)
Rút đến cực điểm thì thông thiên
Cơ trời b**g lên phía trên
Cơ đất b**g lên phía dưới
Thuật theo thì sống, làm trái thì chết

LƯU Ý: Những thứ ghi trong Ngọc Bội Minh chỉ là một "mắt xích" trong một 'chuối mắt xích" cho nên đọc mang tính tham khảo không nên thực hành theo.

----
Tại sao lại phải Bế Khí ?

Trong Đạo gia có câu:

"Chỉ tức vi tử, đình tức vi tiên"

Giải nghĩa: Hô hấp dừng hẳn ngoài ý muốn (bị ngạt) là chết. Hô hấp tự nhiên lắng đọng đến mức vi tế (trong thiền định) là thần tiên.

Trong các phép luyện tập của Đạo gia, các trường phái đều rất tinh thông phương pháp Thổ Nạp , đặc biết là Bế khí.

Lý do là Đạo Gia thường lấy "Tính Mệnh song tu" làm tiêu chí, còn gọi là :
"mệnh vô tính bất lập, tính vô mệnh bất tồn"
dịch :
mệnh không có tính thì không đứng vững, tính không có mệnh thì không tồn tại.

trong đó phải tu Mệnh trước sau đó mới tu Tính sau,
Mệnh chính là bản nguyên của cơ thể hãy còn được giải thích là " Là tiên thiên chí tinh", khi Mệnh tốt thì tinh thần tự nhiên mạnh mẽ, sáng láng
Nhưng họ không luyện cơ thể theo cách của người bình thường mà là "ăn khí" - một cách ẩn dụ của thổ nạp bế khí, chính vì thế mới có câu:

"Thực khí giả thần minh bất tử."

Nghĩa là
Người ăn khí (thực hành phục khí, hành khí) thì thần trí sáng suốt và không chết.
Câu này phản ánh niềm tin cốt lõi của Đạo gia: khí là nguồn nuôi dưỡng sinh mệnh sâu hơn thức ăn vật chất.

Lý do liên quan đến Bế Khí chính là chính là Đạo gia cho rằng "Khí hễ thở ra là Tán - Phải giữ lại" - câu nói này mang tích trừu tượng không nên hiểu theo nghĩa đen.

Trong quan niệm Đạo gia: người ta sinh ra sau khi có thất tình lục dục, nguyên dương bị hao tán, chân khí bị thất thoát. Tuy có khí -dịch tương sinh tự nhiên, nhưng theo mỗi hơi thở - một thở ra nguyên khí ra, một hít vào nguyên khí vào - nguyên khí đã nạp vào không giữ lại được.

Chính vì vậy Hàm ý sâu của Bế khí chính là: Đạo gia xem mỗi hơi thở bình thường là một hành động hao tán. Bế khí là hành động phòng thủ - ngăn nguyên khí chạy ra ngoài theo đường hô hấp.

Ngoài ra còn lý do liên quan đến bế khí chính là: Bế khí để khí tụ, khí tụ mới chạy được

Lý do này được ghi trong "Hành khí Ngọc Bội minh" :

"Súc tắc thân, thân tắc hạ, hạ tắc định, định tắc cố"
Nguyên lý của Hành Khí Ngọc Bội Minh là: khí hít vào sâu thì tích chứa ; tích chứa thì duỗi lan; duỗi lan thì xuống ; xuống thì an định ; an định thì cố kết.

Nếu không bế khí - khí chỉ thoáng qua rồi thoát ra theo mỗi hơi thở, không bao giờ tích đủ để "xuống định" và "cố kết". Bế khí là thời gian khí lắng lại và ngấm vào.

Theo Trung Y Từ Điển hiện đại: bế khí kích thích hạ đan điền, khơi dậy tiên thiên tinh khí.
Thận chủ nạp khí - bế khí tăng cường chức năng thận khí thu nạp, có tác dụng tiềm năng điều lý các chứng thận bất nạp khí.

Ngoài ra trong quá trình bế khí, biên độ nâng hạ của cơ hoành tăng lớn, gián tiếp mát-xa tỳ vị, hỗ trợ vận hóa thủy cốc tinh vi.

Nhà khoa học Dương Định Nhất (Long Chen Biotechnology) giải thích: muốn trấn tĩnh tâm thần hãy làm chậm hơi thở, thậm chí bế khí vài giây, mới giúp thu nhiếp chú ý, lấy lại trọng tâm sinh mệnh. Chỉ cần làm một chu kỳ: thở mũi tự nhiên 10 giây → bế khí 3–5 giây. Lặp lại vài lần.

Rất có thú vị là: khi bế khí, vô số tạp niệm trong đầu cũng tự nhiên chậm lại, thậm chí dừng hẳn.

Trong các phương pháp luyện ở trình độ cao, Giải đoạn Bế khí cũng chính là giai đoạn khởi đầu giúp cho người luyện tập làm cho "Thần và Khí giao nhau" còn gọi là "Thần hành tức khí hành, thần trú tức khí trú." - ngoài ra tập niệm tốt khả năng khu trừ tạp niệm và tiến vào "Định tâm" - ngoài ra Bế khí còn có tác dụng "Công bệnh táo" - tụ khí tấn công vào ổ bệnh
==> các phương pháp này đều là những phương pháp của những có kỹ thuật cao luyện tập lâu năm.

---
Các phương pháp BẾ KHÍ không đơn giản và phải tuỳ theo căn cơ mà luyện tập. Đối với người mới luyện tập đặc biệt không nên tham các phương pháp 'cao siêu' vì nếu không biết phương pháp mà tự luyện tập có thể gây ra các triệu chứng không mong muốn.

Ngay cả đối với những người tập, thì yêu cầu quan trọng nhất vẫn là "Nhẫn nại " tập luyện đều đặn từ dễ đến khó.

Quan trọng hơn đối với người có bệnh, hoặc nhiều người có bệnh trọng người mà không biết trong giai đoạn tập Bế khí có thể bệnh phát tác, nên vô cùng cẩn thận

Tuy nhiên để những người hiện nay đang luyện tập Bế khí hoặc các phương pháp khí công Thổ nạp khác tham khảo, xin trích dẫn một đoạn hướng dẫn trong "Nhiếp Sinh Yếu Nghĩa · Điều Khí Thiên" tác giả là Hà Tân Trượng Nhân, người Nam Tống như sau:

------
"Dục tu điều khí chi thuật giả, thường đắc mật thất bế hộ, an sàng noãn tịch, chẩm cao nhị thốn hứa, chính thân yển ngọa, minh mục ác cố, lưỡng túc gian tương khứ ngũ thốn, lưỡng tý dữ thể tương khứ diệc các ngũ thốn.
Tiên tập bế khí, dĩ tỵ hấp nhập, tiệm tiệm phúc mãn, nãi bế chi, cửu bất khả nhẫn, nãi tòng khẩu tế tế thổ xuất, bất khả nhất hô tức tận.
Khí định phục như tiền bế chi. Thủy nhi thập tức hoặc nhị thập tức bất khả nhẫn, tiệm thục tiệm đa.
Đãn năng bế chí thất bát thập tức dĩ thượng, tắc tạng phủ hung cách chi gian giai thanh khí chi bố hộ hoạch.
Chí ư thuần thục, đương kỳ khí bế chi thời, tỵ trung duy hữu đoản tức nhất thốn dư.
Sở bế chi khí, tại trung như hỏa chưng nhuận phế cung, nhất túng tắc thân như ủy thuế, thần tại thân ngoại, kỳ khoái kỳ mỹ, hữu bất khả ngôn chi trạng."
----
Dịch nghĩa:

Chuẩn bị luyện tập:
Người muốn tu luyện phép điều khí, nên tìm một căn phòng kín, đóng cửa, giường nằm yên ổn, chăn đệm ấm áp. Gối cao chừng hai tấc. Thân thể nằm ngay ngắn ngửa mặt, nhắm mắt, nắm tay theo thế "ác cố". Hai chân cách nhau khoảng năm tấc, hai tay cũng cách thân mỗi bên năm tấc.

Phương pháp hô hấp:
Trước hết tập bế khí. Dùng mũi hít vào, để bụng dần dần đầy lên rồi giữ hơi lại. Khi giữ đến mức không thể chịu được nữa thì từ từ thở ra bằng miệng, thật nhẹ nhàng, không được thở ra một hơi là hết sạch.
Khi hơi thở đã ổn định lại tiếp tục làm như trước.
Ban đầu giữ được mười tức hoặc hai mươi tức đã thấy khó chịu, nhưng dần dần quen thuộc thì thời gian giữ hơi sẽ tăng lên.

Hiệu quả được mô tả:
Chỉ cần có thể giữ hơi đến bảy mươi hoặc tám mươi tức trở lên thì giữa tạng phủ và vùng ngực hoành cách đều được thanh khí lan tỏa che chở.
Khi công phu đã thuần thục, trong lúc bế khí, nơi mũi chỉ còn một luồng hơi cực ngắn khoảng hơn một tấc.
Luồng khí được giữ bên trong giống như hơi nóng đang hun hấp và nhuận dưỡng cung phế.
Một khi buông hơi ra thì thân thể như được cởi bỏ lớp vỏ cũ, thần thức như vượt ra ngoài thân thể.
Cái cảm giác khoan khoái và mỹ diệu ấy thật khó dùng lời mà diễn tả.

Dấu hiệu đang đúng hướng: trong lúc bế khí cảm thấy ấm nóng lan nhẹ trong lồng ngực. Khi thở ra sau khi bế khí lâu, thân người có cảm giác nhẹ bổng thoáng qua. Sau mỗi buổi tập, đầu óc rõ ràng hơn và cơ thể cảm thấy thư giãn sâu.

Dấu hiệu cần dừng lại và điều chỉnh: chóng mặt, tê đầu ngón tay, tim đập nhanh bất thường, lo lắng tăng lên. Những điều này cho thấy đang bế khí quá mức hoặc thở ra quá nhanh sau khi bế - cần giảm thời gian bế và thở ra chậm hơn

--
giải thích về Thủ ấn 握固 (Ác cố)
"Ác cố" là một thủ ấn dưỡng sinh cổ, ngón cái đặt trong lòng bàn tay, bốn ngón còn lại khép lại nắm lấy ngón cái.

29/05/2026

TRẠM TRANG - Đơn giản dễ tập nhưng thâm sâu.
-----------
Để hiểu Trạm Trang nên thử so sánh nó với Toạ thiền ( ngồi thiền định)

Trạm Trang và Toạ thiền đều là "Tĩnh Công" - hiểu nôm na là tĩnh ở thân để tạo ra sự chuyển hoá bên trong.

Trong Trạm Trang thì hay nói "Cơ nhục nhược nhất" - Cơ thịt như hợp làm một, toàn thân thống nhất thành một khối, không tách rời. Trong Thiền thì: “thân tâm nhất như” - Thân và Tâm hợp làm một thể. Cả hai đều muốn thân không phân tán, ý không loạn, thần không tán.

Nhưng khác ở chỗ:
+ Trạm Trang thì : Đứng
+ Toạ thiền thì: Ngồi.

----------------
Tại sao Dưỡng Sinh và Võ thuật cổ truyền lại rất thích dùng Trạm Trang ?

Xét về Dưỡng Sinh, có câu nói truyền miệng rất phổ biến:

"Nhân lão thoái tiên lão"
nghĩa là: người già thì chân già trước

Trong y học cổ truyền và giới luyện công chân là “gốc” của cơ thể, là nền tảng vận hành khí huyết và tàng trữ tinh khí (Thận chủ cốt tủy, chân liên quan trực tiếp đến Thận).

Khi chân yếu, thoái hóa (đau khớp gối, teo cơ, mất cân bằng), toàn thân sẽ nhanh chóng suy giảm.

Ngược lại, nếu duy trì được đôi chân khỏe mạnh (gân cốt dẻo dai, khí huyết thông suốt), thì tuổi thọ và sức khỏe sẽ được kéo dài.

Tuy nhiên "tập chân" có nhiều cách tập, tập theo cách "động" thì có chạy bộ, đi bộ, leo núi .. đi quyền. Còn tập "tĩnh" thì có TRẠM TRANG

Trọng Đạo gia Dưỡng sinh có câu:

“Nhược yếu tẩy cốt tủy, tiên tòng trạm trang khởi” - Nếu muốn rửa sạch tủy xương, thì phải bắt đầu từ Trạm Trang.

Trong Võ thuật có câu:

"Bách luyện bất như nhất trạm" - Trăm lần luyện tập không bằng một lần đứng tấn.

Câu này xuất phát từ giới võ học cổ truyền, thường được các võ gia qua các thế hệ truyền miệng: "Nhập môn tu trạm tam niên trang, bách luyện bất như nhất trạm" - nghĩa là người mới học phải đứng tấn ba năm, vì trăm lần luyện tập không bằng một lần đứng tấn.

Tại sao "đứng" lại hơn "luyện"?
Trạm Trang thuộc loại "dĩ hình dẫn khí" - chỉ cần căn chỉnh tư thế đúng là có thể kích hoạt kinh lạc, dẫn nội khí vận hành. Khí huyết từ nội tạng lưu thông ra tứ chi, đến tận đầu ngón - chức năng kích hoạt kinh lạc, bồi dưỡng chính khí, điều lý khí cơ rất mạnh mẽ.

Lý thuyết Đạo gia cho rằng con người vốn đã có sức mạnh tiên thiên, chính những thói quen xấu sau này tạo ra biến dạng cơ thể, cơ bắp cứng đờ, sức lực thô vụng. Vì vậy Trạm Trang chính là quá trình liên tục gỡ bỏ sức lực thô vụng đó để sức mạnh tiên thiên tự nhiên trở lại.

Tuy nhiên cách viết trên cũng hơi mang tính cường điệu hoá - viết chủ yếu để mọi người tham khảo.

----
Nghĩa đen của từ Trạm Trang ( Zhan Zhuang) dịch theo tiếng Trung có nghĩa là: Đứng như cọc

Hiểu là
Người luyện đứng yên bất động, vững chãi như một cái cọc được đóng sâu vào đất, chịu lực, không đổ, không lay chuyển.
Yêu cầu là toàn thân phải “cắm rễ” sâu, vững vàng, nhưng vẫn giữ được sự mềm mại, không cứng ngắc.

Thuật ngữ Trạm trang được Vương Hướng Trai đặt ra khi ông xây dựng hệ thống võ thuật Ý Quyền (Yiquan) dựa hoàn toàn trên kỹ thuật này.

Thời Thanh, triều đình kìm hãm võ thuật, người biết toàn bộ tinh tủy thung công chỉ còn vài người, trong đó có Cơ Tế Khả và Lý Lạc Năng . Lý Lạc Năng truyền cho Quách Vân Thâm , và Quách đem tất cả những gì học được truyền lại cho Vương Hướng Trai.

Vương Hướng Trai, sau khi thừa kế toàn bộ di sản từ Quách Vân Thâm, đã tham học rộng rãi các trường phái, tổng hợp tinh hoa, rồi hệ thống hóa thành phương pháp luyện Ý Quyền với Trạm Trang làm cốt lõi, và truyền bá ra thế giới.

Công lao ghi chép khoa học về tác dụng của Trạm Trang thuộc về Giáo sư Dư Vĩnh Niên (Yu Yong Nian) – người trực tiếp học với Vương Hướng Trai và suốt nhiều thập kỷ thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm về lợi ích sức khỏe của môn này. Ông có tác phẩm nổi tiếng "Zhan Zhuang: The Art of Nourishing Life"

Vương Hương Trai sử dụng nhiều loại Trạm Trang để dạy học trò, nhưng ông coi Hỗn Nguyên Trang là cốt lõi và quan trọng nhất. Ông đặt Trạm Trang chiếm 2/3 thời gian luyện tập, coi đây là nền tảng của Ý Quyền (Đại Thành Quyền).

Ông cho rằng Hỗn Nguyên Trang bao hàm tinh hoa của Tam Thể Thức (Hình Ý) nhưng đơn giản hơn, dễ luyện, phù hợp cả dưỡng sinh lẫn võ thuật. Tư thế này giúp phát triển Hỗn Nguyên Lực (lực toàn thân tròn đầy), dễ đạt “Hình Ý Hợp Nhất”.

-----
Tuy nhiên cách tập như Trạm Trang không phải từ Vương Hương Trai mới có - mà có từ rất lâu, có thể nói hàng ngàn năm, nhưng trước đó "các cụ" không gọi là Trạm Trang

Tác phẩm lâu đời nhất có ghi công pháp liên quan đến Nội Công và Tĩnh Công chính là Quản Tử (管子 - Guanzi) sáng tác khoảng thế kỷ 7 TCN (Thời Xuân Thu),

Tác giả được gán cho Quản Trọng - nhà chính trị, tướng quốc tài ba của Tề Hoàn Công thời Xuân Thu - nhưng thực tế sách là tổng hợp nhiều tác giả qua nhiều thời kỳ, được biên soạn hoàn chỉnh vào thời Tây Hán bởi Lưu Hướng.

Quản Tử không phải là sách võ thuật, nhưng là một trong những nguồn gốc triết học sớm nhất cho Nội Công Trung Hoa. Trong sách có ghi như sau:

"Tứ thể (bốn chi) đã đoan chính, huyết khí đã tĩnh lặng, nhất ý tập trung tâm, tai mắt không bị mê hoặc — tuy xa mà như gần."

Phân tích: Câu "tứ thể ký chính" mô tả chính xác yêu cầu đầu tiên của Trạm Trang: thân đứng thẳng, bốn chi đoan chính. Từ "ký" = đã, rồi - cho thấy đây là điều kiện tiên quyết phải đứng đúng trước, rồi mới có thể đạt các tầng sau.

Sách còn ghi :

“Nhân năng chính tĩnh, bì phu dụ khoan, nhĩ mục thông minh, cân tín nhi cốt cường.”
Dịch :
Người có thể giữ được chính tĩnh, thì da thịt sẽ sung mãn khoan thai, tai mắt thông minh sáng suốt, gân dẻo mà xương chắc khỏe.

Trong Trang Tử - Nhân Gian Thế, là một trong những văn bản quan trọng nhất về tu tâm dưỡng tính và khí công của Đạo gia, có viết một đoạn văn rất nổi tiếng:

“Nhược nhất chí, vô thính chi dĩ nhĩ nhi thính chi dĩ tâm; vô thính chi dĩ tâm nhi thính chi dĩ khí. Thính chỉ vu nhĩ, tâm chỉ vu phù. Khí dã giả, hư nhi đãi vật giả dã. Duy đạo tập hư. Hư giả, tâm trai dã.”

dịch:
Nếu chuyên nhất chí ý, thì chớ nghe bằng tai mà hãy nghe bằng tâm; chớ nghe bằng tâm mà hãy nghe bằng khí. Nghe dừng lại ở tai, tâm dừng lại ở sự phù hợp. Khí là cái hư không mà tiếp nhận vạn vật. Chỉ có Đạo mới tập trung được vào chỗ Hư. Cái Hư ấy, chính là Tâm Trai.

Vậy Tâm Trai là gì?
"Tâm Trai" là kỹ thuật "thủ thần" đặc biệt tinh tế: không phải dùng tai (cơ quan cảm giác) mà dùng tâm; không phải dùng tâm tư duy mà dùng khí (cảm nhận toàn thân). Đây là mô tả trạng thái nội tâm trong khi đứng tĩnh — chính xác là trạng thái mà người tập Trạm Trang tiến bộ hướng đến.

Trong Hoàng Đế Nội Kinh - Tố Vấn cũng viết một câu như sau:

“Dư văn thượng cổ hữu chân nhân giả, đề khiếp thiên địa, bả ác âm dương, hô hấp tinh khí, độc lập thủ thần, cơ nhục nhược nhất, cố năng thọ tế thiên địa, vô hữu chung thời, thử kỳ đạo sinh.”

dịch:
“Ta nghe nói thuở Thượng Cổ có bậc Chân Nhân, họ nắm giữ thiên địa, thao túng âm dương, hô hấp tinh khí, một mình đứng giữ vững thần, cơ nhục như hợp làm một. Cho nên họ có thể sống lâu ngang với trời đất, không có lúc cùng tận. Đó là do họ biết Đạo Sinh.”

Trong đoạn này có một số câu quan trọng :

+ "Độc lập thủ thần":Một mình đứng, giữ vững tinh thần. Đây là mô tả trực tiếp hành vi đứng tĩnh (Trạm Trang).

+ "Cơ nhục nhược nhất":Toàn thân cơ bắp, gân cốt, da thịt hợp thành một khối thống nhất. Đây là dấu hiệu then chốt khi đứng Trang đạt mức cao.

+ "Hô hấp tinh khí ":Hô hấp không chỉ là thở không khí, mà là hấp thụ tinh hoa của trời đất (khí tinh vi).

Đây chính là đoạn mô tả rõ ràng và sớm nhất về Trạm Trang trong lịch sử Trung Hoa, dù lúc bấy giờ chưa có tên gọi "Trạm Trang"

Theo tài liệu " Nghiên cứu nguồn gốc lịch sử và nội hàm văn hóa của Trạm Trang" của tác giả Tưởng Đào - phương pháp đứng tĩnh cổ xưa nhất khởi nguồn từ thực hành võ thuật thượng cổ gọi là "Thiền Miên" - mô phỏng tư thế ve sầu ngủ trên cây. Thời Chiến Quốc, thực hành này được gọi là "Điêu Miên"

---

Trong võ thuật Trung Hoa, biến thể của Trạm Trang được gọi bằng nhiều tên khác nhau theo vùng và trường phái: "Trát Mã" ở miền Nam Trung Quốc; "Tam Thể Thức" trong Hình Ý Quyền ở miền Bắc. Các trường phái khác có Thung Pháp, Mã Bộ, Thung Công, Lập Công ...

Về nguyên lý của Trạm Trang - Vương Hương Trai có một câu như sau:

"Tu Tri Đại Động Bất Như Tiểu Động, Tiểu Động Bất Như Bất Động, Yếu Tri Bất Động Tài Thị Sinh Sinh Bất Dĩ Chi Động "

Dịch:
Cần biết rằng đại động không bằng tiểu động, tiểu động không bằng bất động - cần hiểu rằng bất động mới chính là sự chuyển động sinh sinh bất dĩ.

Trong câu trên của Vương Hương Trai "Sinh sinh bất dĩ" là cụm từ xuất phát từ - Chu Dịch Hệ Từ:

"Thiên Địa Chi Đại Đức Viết Sinh, Sinh Sinh Chi Vị Dịch."
dịch nghĩa:
Đức lớn của trời đất gọi là Sinh, sinh sinh liên tục gọi là Dịch.

Vương Hướng Trai dùng từ này không phải ngẫu nhiên - ông đặt Trạm Trang vào cùng tầng với quy luật vận động căn bản của vũ trụ trong Kinh Dịch.

Vương Hướng Trai viết tiếp ngay sau câu này:

"Ví như bánh xe máy móc hoặc con quay của trẻ em - quay đến cực nhanh, bề ngoài như không động. Nếu nhìn nó như đang động, thì đó là lúc sắp dừng, là biểu hiện của vô lực. Gọi là bất động chi động mau hơn động, cực tốc chi động vẫn như bất động - một động một tĩnh, tương căn mà dùng."

Đây là hình ảnh con quay (Niễn Chuyển Nhi): khi quay chậm thì thấy quay rõ, khi quay nhanh đến cực điểm thì trông như đứng im - nhưng đó là lúc nó có lực nhất.

Trạm Trang chính xác là trạng thái "con quay quay nhanh đến mức trông như đứng im" đó.

----

26/05/2026

Tra lục về - LỤC TỰ QUYẾT Dưỡng sinh
---------------------------
Lục Tự Quyết là phương pháp dưỡng sinh dùng sáu âm thở ra khác nhau - mỗi âm cộng hưởng với một tạng phủ cụ thể - để đẩy tà khí ra ngoài và điều hòa nội tạng.

Thời Nam triều (Lương), Đào Hoằng Cảnh, là đạo sĩ, y gia, nhà bác học, biên soạn "Dưỡng Tính Diên Mệnh Lục" - Ghi chép về dưỡng tính và kéo dài sinh mệnh, trong đó có đoạn mô tả sáu âm thở để điều trị nội tạng chính là Lục Tự Quyết,

Đào Hoằng Cảnh ghi một câu để nói về Lục Tự Quyết như sau:

"Nạp khí hữu nhất, thổ khí hữu lục. Nạp khí nhất giả, vị hấp dã; thổ khí lục giả, vị xuy, hô, hi, ha, hư, hí, giai xuất khí dã."

dịch:
Phép nạp khí có một, phép thổ khí có sáu.
Một phép nạp khí tức là hít vào;
Sáu phép thổ khí tức là các âm xuy, hô, hi, ha, hư, hí, đều là những cách thở khí ra.

Đây là văn bản sớm nhất hệ thống hóa Lục Tự Quyết, trước đó có thể Đào Hoẵng Cảnh cũng có thể học từ tiền nhân theo dạng "mật pháp" rồi tổng hợp kiến thức từ phép Thổ Nạp rồi sáng tạo ra Lục Tự Quyết.

Như vậy cho đến nay Lục Tự Quyết đã tồn tài và được phổ biến hơn 1.500 năm.

Năm 2003, Tổng cục Thể thao Trung Quốc biên soạn lại và đưa Lục Tự Quyết vào hệ thống "Kiện Thân Khí Công" để phổ biến toàn quốc.

Tuy nhiên từ đời của Đào Hoẵng Cảnh, Lục Tự Quyết được rất nhiều "cao thủ" trong giới Đạo gia, Y gia, Võ gia chỉnh sửa, bổ sung và phát triển.

---------------------
LỤC TỰ QUYẾT và Phật Giáo

Thời nhà Tuỳ có Trí Khải Đại Sư, được hậu thế tôn xưng là "Đông Thổ Thích Ca", là người thực tế sáng lập Thiên Thai tông của Phật giáo Hán truyền.

Trong tác phẩm "Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu" của Trí Khải Đại Sư, nội dung là tổng quát về Thiên Thai Chỉ Quán và then chốt của đạo và được xem là bộ điển tịch đầu tiên trên thế giới giới thiệu có hệ thống phương pháp tĩnh tọa và trí tuệ chỉ-quán, giúp người mới bắt đầu bước vào thiền định và khai mở trí tuệ, có chương thứ 9 nói về Lục Tự Quyết, thảo luận ba phương pháp: "Chỉ tâm đan điền trị bệnh",
"Lục Khí trị bệnh",
và "Thập Nhị Tức trị bệnh"
Đây đều là những pháp tu liên quan trực tiếp đến Trì Tức Niệm (quán sát hơi thở)

Trí Khải không chỉ tiếp nhận sáu âm của Đào Hoằng Cảnh mà còn lập ca kệ phối hợp sáu âm với tạng phủ: - đây là một trong những lần đầu tiên sáu âm được hệ thống hóa thành bài ca có thể truyền dạy.

"Tâm phối thuộc ha, thận thuộc xuy,
Tỳ hô, phế hí, thánh giai tri.
Can tạng nhiệt lai, hư tự trị,
Tam tiêu ủng xứ, đản ngôn hi."

dịch:
Tim phối với âm ha, thận thuộc âm xuy;
Tỳ dùng âm hô, phổi dùng âm hí, điều ấy ai cũng biết.
Khi gan tạng có nhiệt thì dùng chữ hư để trị;
Chỗ tam tiêu bế tắc thì chỉ dùng âm hi.
------
Lưu ý: /// Bài kệ này có thể không phải do Trí Khải viết. Bài kệ này nhiều khả năng là do người đời Tống về sau thêm vào - tuy nhiên cứ viết ra đây cho mọi người tham khảo ///
-----

Trí Khải đề xuất lý thuyết "Ba Điều" - điều thân, điều tức, điều tâm - xây dựng hệ thống thiền định cân bằng định và tuệ.
Trong đó điều tức (điều chỉnh hơi thở) là nền tảng kỹ thuật, và sáu âm là một trong các công cụ điều tức

------------------------
LỤC TỰ QUYẾT và Tôn Tư Mạc

Tôn Tư Mạc là đại y dược học gia nổi tiếng thời Đường - được hậu thế tôn xưng là "Dược Vương", nhiều người Hoa còn tôn ông là "Y Thần". Ông tinh thông y học, giỏi dưỡng sinh, và sống đến 101 tuổi - một trong những y gia trường thọ hiếm có trong lịch sử.

Ông thường hay kết hợp tư tưởng dưỡng sinh của Nho gia, Đạo gia, và Phật gia Ấn Độ với lý thuyết dưỡng sinh y học Đông y, đề xuất nhiều phương pháp dưỡng sinh thiết thực mà đến nay vẫn còn giá trị hướng dẫn đời sống hàng ngày.

Trong tác phẩm "Bị Cấp Thiên Kim Dược Phương" – thiên Dưỡng Tính - Lục Tự Quyết được ghi lại như sau:

"Nhược hoạn tâm lãnh bệnh, khí tức hô xuất; nhược nhiệt bệnh, khí tức xuy xuất; nhược phế bệnh, tức hư xuất; nhược can bệnh, tức ha xuất; nhược tỳ bệnh, tức hi xuất; nhược thận bệnh, tức ti xuất."

dịch:
Nếu mắc bệnh tâm lạnh, khí thở ra bằng HÔ; nếu bệnh nhiệt, khí thở ra bằng XUY; nếu bệnh phổi, thở ra bằng HƯ; nếm bệnh gan, thở ra bằng HA; nếu bệnh tỳ, thở ra bằng HI; nếu bệnh thận, thở ra bằng TI.

Tuy nhiên đóng góp quan trọng của Tôn Tư Mạc đối với Lục Tự Quyết đó là:

phương pháp "Đại hô và Tế hô", giải thích như sau:
+ Đại hô (大呼): Thở mạnh to, đầy lực - tác dụng là tống tà khí sâu, kích thích mạnh
+ Tế hô (細呼): Thở nhẹ nhỏ, vi tế - tác dụng điều hòa, ổn định sau khi tống

Xen kẽ hai phương pháp này chính là điều hoà Âm - Dương

Nguyên văn:

"Lãnh bệnh giả, dụng đại hô tam thập biến, tế hô thập biến. Hô pháp, tị trung dẫn khí nhập, khẩu trung thổ khí xuất, đương lệnh thanh tương trục hô tự nhi thổ chi. Nhiệt bệnh giả, dụng đại xuy ngũ thập biến, tế xuy thập biến..."

dịch:
Bệnh lạnh: dùng đại hô 30 lần, tế hô 10 lần. Phép hô: mũi dẫn khí vào, miệng thở khí ra, để âm thanh theo chữ mà thổ ra. Bệnh nhiệt: dùng đại xuy 50 lần, tế xuy 10 lần...
---
// Lưu ý: Nội dung chỉ có tính chất tham khảo - không nên thực hành nếu không có người hướng dẫn chuyên nghiệp /
---

Tôn Tư Mạc theo thứ tự Ngũ hành tương sinh, kết hợp bốn mùa, biên soạn "Vệ Sinh Ca" - đặt nền móng cho Lục Tự Quyết trị bệnh theo mùa như sau:

"Xuân hư minh mục hạ ha tâm,
Thu ti đông xuy phế thận ninh.
Tứ quý thường hô tỳ hóa thực,
Tam tiêu hi xuất nhiệt nan đình.
Phát nghi thường sơ khí nghi liễm,
Xỉ nghi sổ khấu tân nghi yết."

Dịch :

Xuân–Hư sáng mắt, Hạ–Ha dưỡng tâm
Thu–Ti, Đông–Xuy cho phổi thận bình yên
Bốn mùa thường Hô tỳ tiêu hóa tốt
Tam tiêu Hi ra nhiệt khó dừng
Tóc nên thường chải khí nên thu
Răng nên gõ nhiều nước bọt nên nuốt.

Tóm lại Tôn Tư Mạc y học hóa và hệ thống hóa Lục Tự Quyết thành một liệu pháp có định lượng, có chu kỳ, có chuẩn bị - đây là bước chuyển từ thực hành dân gian sang y học chữa bệnh có phương pháp.

-------
Hồ Âm - Nữ Đạo sĩ cải tổ bảng Âm-Tạng của LỤC TỰ QUYẾT

Hồ Âm là nữ đạo sĩ thời Đường, đạo hiệu Thái Bạch Sơn Kiến Tố Tử - tác phẩm của bà là:

"Hoàng Đình Nội Cảnh Ngũ Tạng Lục Phủ Bổ Tả Đồ" - Sơ đồ/pháp yếu bổ tả ngũ tạng lục phủ theo phép Hoàng Đình nội cảnh

Trong sách Hồ Âm thay đổi toàn bộ cách phối hợp sáu âm với ngũ tạng:
đổi phế "hư" → "ti",
đổi tâm "hô" → "ha",
đổi can "ha" → "hư",
đổi tỳ "hi" → "hô",
đổi thận "ti" → "xuy";
và thêm mới đởm (túi mật) với âm "hi".

Hồ Âm không thay đổi tùy tiện, bà dựa trên lý thuyết "Ngũ âm y học" Nói cách khác, Hồ Âm đã truy ngược về vật lý âm thanh - vị trí phát âm trong miệng => loại âm thanh => cộng hưởng với tạng phủ nào theo Ngũ hành.

Bảng của Hồ Âm được nhiều người chấp nhận và sử dụng rất nhiều cho đến thời nay.

--------------------
Lãnh Khiêm và những bổ sung vào LỤC TỰ QUYẾT

Lãnh Khiêm, người thời Hồng Vũ đầu triều Minh . Ông là một đạo sĩ tinh thông âm luật, từng giữ chức Thái Thường Hiệp Luật Lang (quan phụ trách âm nhạc triều đình); đồng thời còn là họa gia và thư pháp gia.

Do tinh thông đạo dưỡng sinh và thực hành có phương pháp, Lãnh Khiêm tương truyền sống đến hơn 150 tuổi - là một trong những điển hình trường thọ hiếm có của y gia dưỡng sinh cổ đại Trung Quốc

Ông có tác phẩm: "Tu Linh Yếu Chỉ"
Trong đó có Chương 3: Lục Tự Quyết trường thọ.

Công thức tổng quyết của Lãnh Khiêm:

"Can nhược hư thời mục trừng tình, Phế hòa ti khí thủ song khinh, Tâm ha đỉnh thượng liên xoa thủ, Thận xuy bão thủ tất đầu bình, Tỳ hư hô thời tu toát khẩu, Tam tiêu khách nhiệt ngọa hi ninh."

dịch:

Can hư thì mắt trợn to; Phế hòa thì âm Ti tay giơ ngang; Tâm Ha thì hai tay đan chéo trên đầu; Thận Xuy thì ôm đầu gối ngang; Tỳ hư Hô thì phải mím miệng; Tam tiêu nóng thì nằm niệm Hi mà yên.

Mỗi âm đi kèm một tư thế cơ thể cụ thể , đây là lần đầu tiên trong lịch sử Lục Tự Quyết có sự ghép đôi âm-động tác một cách có hệ thống.

Cụ thể hơn ông có phân tích và ghi rõ cách giải ví dụ

1) Về âm "Hư" - Can khí huyết

"Can chủ long đồ, vị hiệu tâm,
Bệnh lai hoàn giác hảo toan tân.
Nhãn trung xích sắc kiêm đa lệ,
Hư chi lập khứ, bệnh như thần."

Dịch:

Gan chủ đường khí như rồng, địa vị đứng đầu trong cơ năng tạng phủ.
Khi bệnh đến thì thường cảm thấy thích vị chua cay (hoặc có chứng liên quan vị giác bất thường).
Mắt đỏ, lại chảy nhiều nước mắt.
Dùng âm "hư" mà thở ra, bệnh liền lui nhanh như thần.

2) Ha - Tâm khí quyết

"Tâm nguyên phiền táo, cấp tu ha,
Thử pháp thông thần, cánh mạc quá.
Hầu nội khẩu sang tịnh nhiệt thống,
Y chi mục hạ tiện an hòa."

Dịch:

Nguồn khí của tim khi phiền nhiệt, bứt rứt thì cần gấp dùng âm ha.
Phép này thông thần, không còn gì hay hơn.
Trong họng, trong miệng có lở loét, nóng đau,
Theo phép ấy thì trong chốc lát liền được yên hòa.

3) "Xuy" - Thận khí quyết:

"Thận vi thủy, bệnh chủ sinh môn,
Hữu bệnh uông luy, khí sắc hôn.
Mi xúc, nhĩ minh, kiêm hắc sấu,
Xuy chi tà vọng lập đào bôn."

Dịch:

Thận thuộc hành thủy, chủ ở cửa sinh mệnh.
Khi có bệnh thì thân thể suy yếu, khí sắc tối mờ.
Mày nhíu, tai ù, lại thêm đen sạm gầy yếu.
Dùng âm xuy mà thở ra, tà khí liền chạy mất.

---
Bài "Tứ Quý Khước Bệnh Ca" - di sản bất hủ:

"Xuân hư minh mục mộc phù can,
Hạ chí ha tâm hỏa tự nhàn,
Thu ti định thu kim phế nhuận,
Thận xuy duy yếu khảm trung an,
Tam tiêu hi khước trừ phiền nhiệt,
Tứ quý thường hô tỳ hóa xan,
Thiết kỵ xuất thanh văn khẩu nhĩ,
Kỳ công vưu thắng bảo thần đan."

Bài này rất hay nên xin ghi chi tiết giải thích như sau:

Câu 1: 春嘘明目木扶肝
"Xuân hư minh mục mộc phù can"
Ba tầng nghĩa đan xen:

Xuân => Hư: Mùa xuân khí Mộc thăng lên, Can cũng thuộc Mộc — hai thứ cộng hưởng, nên xuân là thời điểm tốt nhất để dưỡng Can bằng âm Hư
Minh mục: Can khai khiếu ở mắt - dưỡng Can thì mắt sáng
Mộc phù can: Mộc khí mùa xuân tự nhiên nâng đỡ Can - đây là thuận thế trời đất

Câu 2: 夏至呵心火自閒
"Hạ chí ha tâm hỏa tự nhàn"

Hạ chí: Mùa hè Hỏa vượng nhất - Tâm thuộc Hỏa, dễ bị quá nhiệt
Ha tâm: Dùng âm Ha để tiết bớt hỏa khí của Tâm
Hỏa tự nhàn: Hỏa tự nhiên thanh nhàn - chữ "tự" quan trọng, nghĩa là không cưỡng ép mà thuận theo

Câu 3: 秋呬定收金肺潤
"Thu ti định thu kim phế nhuận"

Thu => Ti: Mùa thu Kim khí thu liễm, Phế thuộc Kim - cùng khí
Định thu: Thu liễm, ổn định - đối ứng với bản chất mùa thu (vạn vật thu liễm)
Kim phế nhuận: Phế được nhuận - vì mùa thu khô, Phế dễ táo, âm Ti giúp nhuận Phế

Câu 4: 腎吹惟要坎中安
"Thận xuy duy yếu khảm trung an"

Thận xuy: Thận dùng Xuy - đông lạnh, cần ôn ấm thận dương
Duy yếu: "Chỉ cần" - hàm ý đây là đủ rồi, không cần thêm gì
Khảm trung an: Quẻ Khảm (☵) trong Kinh Dịch tượng trưng cho Thủy-Thận - "trong quẻ Khảm được an" nghĩa là thận khí ổn định, nguyên dương bảo toàn

Câu 5: 三焦嘻卻除煩熱
"Tam tiêu hi khước trừ phiền nhiệt"

Tam tiêu Hi: Tam tiêu không thuộc Ngũ hành cứng nhắc - nó là hệ thống thông hành toàn thân
Khước trừ phiền nhiệt: Phiền nhiệt không chỉ là nóng thân mà còn là nhiệt tâm lý - phiền muộn, bức bối
Đây là âm duy nhất không gắn với mùa cụ thể → dùng quanh năm khi cần

Câu 6: 四季長呼脾化餐
"Tứ quý thường hô tỳ hóa xan"

Tứ quý thường hô: Bốn mùa đều thường xuyên niệm Hô - Tỳ là tạng trung tâm, cần chăm sóc liên tục
Tỳ hóa xan: Tỳ tiêu hóa thức ăn - "xan" là bữa ăn
Tỳ thuộc Thổ, Thổ là trung tâm của Ngũ hành => dưỡng Tỳ là dưỡng gốc

Câu 7–8: Hai câu nguyên tắc vàng
"Thiết kỵ xuất thanh văn khẩu nhĩ, Kỳ công vưu thắng bảo thần đan"

Thiết kỵ: Tuyệt đối cấm kỵ — đây là lệnh cấm mạnh nhất trong văn cổ
Xuất thanh văn khẩu nhĩ: Để âm thanh phát ra đủ để miệng tai nghe thấy
Vưu thắng: Còn hơn, vượt trội hơn
Bảo thần đan: Linh đan giữ thần — thuốc tiên quý nhất trong quan niệm Đạo gia

Hai câu này không chỉ là kỹ thuật mà là tuyên ngôn triết học: công phu tâm linh (vô thanh) quý hơn bất kỳ thứ thuốc vật chất nào - kể cả thuốc tiên.

Lãnh Khiêm nói: vô thanh trong Lục Tự Quyết làm đúng điều mà Bảo Thần Đan làm - nhưng không cần luyện đan, không cần nguyên liệu, không cần tiền, chỉ cần giữ miệng. - ngăn khí thần rò rỉ ra ngoài.

----

Các đời sau và phiên bản Lục Tự Quyết đều có sự biến đổi theo góc nhìn của các Y gia và Đạo gia, tập Lục Tự Quyết khá đơn giản nhưng cũng cần phải có người đi trước hướng dẫn. Không phải tự nhiên mà Lục Tự Quyết tồn tại và phát triển hơn 1.500 năm và được các "cao thủ" nghiên cứu và ghi vào tác phẩm của mình.

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Category

Website

Address


640 Láng Hạ
Hanoi