LIÊN ĐOÀN VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

LIÊN ĐOÀN VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Share

Chào mừng bạn đến với trang chính thức của Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam https://www.facebook.com/ldvtctvn.pro

Photos from LIÊN ĐOÀN VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM's post 19/04/2021

Thi thăng đai khu vực 1

Photos from LIÊN ĐOÀN VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM's post 09/03/2021

Thi nâng đai và tập huấn Võ cổ truyền Toàn quốc 2021
Theo Thông báo số 76/TB_ TCTDTT ngày 09/3/2021 của Tổng cục Thể dục thể thao, lớp tập huấn Võ cổ truyền toàn quốc được thống nhất tổ chức như sau:
Thời gian: Từ ngày 31/3 đến ngày 07 tháng 4 năm 2021
Địa điểm: Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng - 29 Yersin, phường 10, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Chương trình gồm các nội dung:
1. Thi nâng đai
2. Hội thảo
3 Tập huấn chuyên môn
4. Thi trọng tài
Liên hệ:
1. Ông Trương Văn Bảo, Phó Chủ tịch Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam. Điện thoại: 091 977 9939. Email: [email protected]
2. Ông Nguyễn Tiến Phi, Phó Tổng thư ký kiêm Chánh Văn phòng Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam. Điện thoại: 0243 511 2688. Di động: 098 698 6888. Email: [email protected]
3. Ông Lưu Trọng Tuấn, Chuyên viên Vụ Thể dục thể thao quần chúng; Tổng cục Thể dục thể thao. Điện thoại: 0243 845 4867
Di động: 093 418 8166. Email: [email protected]

09/03/2021
04/01/2020

HÙM XÁM MIỀN TRUNG – LÃO VÕ SƯ HÀ TRỌNG SƠN

Trong làng võ Bình Định đương đại, võ sư Hà Trọng Sơn là một cây đại thụ danh bất hư truyền, là "kỳ nhân" mà không "dị sĩ". Tên ông được khắc vào danh bảng cao thủ bằng những lần thượng đài bách chiến bách thắng.

Mỗi lần nhắc đến những trận thượng đài đỉnh cao, giới võ thuật ở Bình Định liền nhớ ngay đến võ sư Hà Trọng Sơn, người được mệnh danh là Hùm xám miền Trung.

Võ sư huyền thoại Hà Trọng Sơn, sinh ngày 1.6.1920, tại làng võ Phước An, Tuy Phước, Bình Định, trong một gia đình “võ nòi”. Nhà của võ sư Hà Trọng Sơn ở thôn An Hòa 1, xã Phước An, Hhuyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

ĐÁNH BẠI VÕ SĨ TÂY

Võ sư Hà Trọng Sơn đam mê võ thuật từ nhỏ. Năm 8 tuổi, ông được những người anh trong họ hàng như Hà Cảnh, Hà Tùng, Hà Để dạy võ nghệ. Sau đó, ông theo học rất nhiều võ sư khác, trong đó có võ sư Lâm Đắc Đạo và ông Beo (người gốc Hoa, sống ở vùng An Khê, Gia Lai). Năm 17 tuổi, ông Sơn được một sĩ quan người Pháp là đồn trưởng đồn Mang Cá (ở Huế) dạy đấu quyền anh...

Năm 1943, tại Đại hội quyền thuật Đông Dương tổ chức ở Nha Trang, ông Hà Trọng Sơn đã giành chiến thắng trước võ sĩ nổi tiếng của Pháp là F.Nicolai và võ sĩ Tiết Mãnh, vốn là tay đấm lừng danh của Đông Dương lúc bấy giờ. Tháng 10.1944, tại hội thi võ thuật Đông Dương tổ chức tại Đà Nẵng, ông Sơn có trận đấu chung kết với một võ sĩ người Pháp là Esperpaire, một tay đấm bất bại cho đến thời điểm đó. Võ sĩ Esperpaire cao, to, nặng hơn ông Sơn rất nhiều nên khi vào trận đấu, nhiều võ sư người VN rất lo lắng. Sau khoảng 5 phút thăm dò, võ sĩ người Pháp ra đòn tấn công rất mạnh hòng hạ gục ông Sơn. Tuy nhiên, bằng sự linh hoạt, ông Sơn né tránh hết các đòn đánh của đối phương. Khi trận đấu được hơn 20 phút thì Hà Trọng Sơn bất ngờ tung đòn hiểm, Esperpaire dính đòn, đổ gục trên sàn đấu.

ĐẤU VỚI CÁC CAO THỦ MIỀN NAM

Võ sư Trần Can (86 tuổi, ở xã Phước An, H.Tuy Phước, Bình Định), học trò của võ sư Hà Trọng Sơn, kể: Năm 1948, võ sư Hà Trọng Sơn thủ đài tại Bình Định, lần lượt đánh bại các danh thủ hàng đầu như: Trịnh Thiếu Anh, Trung Anh, Bảo Trung Phong... Thời điểm này, ở miền Nam có 3 tay đấm rất nổi tiếng là Huỳnh Tiền, Minh Cảnh, Minh Sang thì võ sư Hà Trọng Sơn đã thượng đài thi đấu với 2 người là Huỳnh Tiền và Minh Cảnh.

Năm 1950, tại hội chợ ở Đà Nẵng, ông Sơn thách đấu với võ sư Huỳnh Tiền, người được mệnh danh “Đệ nhất anh hùng miền Đông” hay còn gọi là “cáo già miền Nam”. Tuy là cao thủ nhưng võ sư Huỳnh Tiền rất mê tín, mỗi khi lên đài, ông thường ngậm thẻ có hình ông Phật để phù hộ giành chiến thắng. Trận này, ông Sơn đã hạ đo ván võ sư Huỳnh Tiền. Từ đó, Hà Trọng Sơn được báo chí ca ngợi và mệnh danh là Hùm xám miền Trung. Sau này, võ sư Hà Trọng Sơn còn đấu với võ sư Huỳnh Tiền nhiều trận, thắng bại đều có nhưng hai người đã trở thành bạn thân.

Cũng trong giai đoạn này, võ sư Minh Cảnh là nhà vô địch Đông Dương về quyền thuật, được mệnh danh là Võ vương Minh Cảnh. Võ sư Hà Trọng Sơn và võ sư Minh Cảnh nhận lời thượng đài với nhau một lần tại Phan Rí (Bình Thuận). Lúc đó, ông Sơn cao gần 1,76 m, nặng 78 kg, còn ông Cảnh thấp hơn nhiều và chỉ có 54 kg nhưng hai bên vẫn nhận lời thi đấu. “Vào trận, thầy Minh Cảnh dùng đòn tay liên tục tấn công vào mặt thầy Sơn. Sau này, thầy Sơn có nói với tôi là đòn tay mặt của thầy Cảnh mạnh như búa bổ. Còn thầy Sơn cũng đánh trúng mặt thầy Cảnh hai lần. Tuy nhiên, trận đấu này phải hoãn giữa chừng do gặp mưa”, võ sư Trần Can nhớ lại.

Võ sư Hà Trọng Sơn còn đánh hòa với võ sĩ Kid Demsey, người giữ chức vô địch Đông Dương nhiều năm liền, đánh bại võ sĩ Ku Xam Thum (người Việt, gốc Thái Lan) vào năm 1960 tại Bồng Sơn (Bình Định)... “Trận thượng đài cuối cùng của cha tôi là với võ sư Phan Huệ (ở Hà Nội). Sau năm 1975, nghe danh cha tôi, võ sư Phan Huệ tìm đến thách đấu. Trận đấu diễn ra tại Trường hát Sùng Nhơn ở Quy Nhơn. Thượng đài chưa đầy một phút, võ sư Phan Huệ dính đòn của cha tôi nên xin thua. Trước trận đấu, ban tổ chức hứa là trả tiền thi đấu rất cao nhưng sau đó họ nuốt lời, không chịu trả và nói rằng: Đánh thắng nhanh như vậy thì lấy tiền làm gì!”, bà Phi kể.

Trong sách Võ cổ truyền Bình Định (xuất bản năm 2004), tác giả Lê Thì, nguyên Giám đốc Sở Thể dục - Thể thao Bình Định, cho rằng bài roi Ngũ Môn phá trận và bài Mai Hoa kiếm pháp là hai môn gia truyền của võ sư nổi tiếng Hà Trọng Sơn. Lúc sinh thời, võ sư Hà Trọng Sơn thường hạ đối thủ bằng các đòn như: thử trước đánh sau, đánh lật sườn, gióng trảo bấu vai lật đầu tháo khớp (đề khí thiết công phục lôi hổ giáng)...

VỀ VỚI ĐỜI THƯỜNG

Những năm chiến tranh loạn lạc, nhà ông bị trúng bom. Tai họa bất ngờ này đã vĩnh viễn cướp đi sinh mạng hai cụ thân sinh của ông. Tài sản mất trắng, ông còn duy nhất mỗi chiếc quần đùi; mấy chiếc cúp minh chứng tài võ nghệ bị nóng chảy biến dạng, ông đem bán đồng nát. Vợ con từ đó đành chịu chung cảnh gian truân.

Khi đã khắc đậm tên mình giữa làng võ, “hùm xám” sống một cuộc đời dung dị, thủy chung. Dịp mừng thọ “hùm xám” tròn thất thập, thân hữu đề tặng rằng:“Nghiệp võ lừng danh gió bụi không say tâm mãnh hổ/Tài hoa nổi tiếng thủy chung vẹn giữ đức hiền nhân”.

Không còn đủ sức để tung chiêu cùng cây đại đao; khẩu quyết về bài roi Thái Sơn, Mai Hoa Kiếm gắn liền danh tiếng “hùm xám”, ông cũng không thể nhớ nổi. Chí tang bồng đã thỏa, về với đời thường, ông thanh thản sống phần đời còn lại trong cuộc hành trình nhân thế đầy giông bão. Tôi mạn phép xin được xem những tấm ảnh thời trai trẻ của ông. Xua tay, ông nói không chút tiếc nuối: “Anh em, bạn bè xin làm kỷ niệm hết trọi rồi. Vả lại, hoạn nạn rồi cuộc đời đấm đá lang bạt đây đó, đâu có ảnh gì nhiều”. Đoạn chỉ tay lên vách tường, ông trầm ngâm: “… kẻ học võ bất ly cung kiếm, nhưng tui không thể nào cưỡng lại quy luật đời người, rửa tay gác kiếm lâu lắm rồi”.

Giờ đây, gánh nặng tuổi tác đã làm nhạt nhòa hào quang từng phủ sáng thời trai trẻ. Lưng bát cơm mỗi bữa, “hùm xám” quẩn quanh trong khu vườn được bao bọc bởi hàng chè tàu xanh ngát. Ngày lại ngày, ông “làm bạn” với chiếc ti vi đen trắng cũ kỹ; chiều chiều, chăm bẵm hai chậu sứ, một gốc mai và một khóm trúc nhỏ đặt trước hiên nhà. Bà Khuê, vợ ông cho biết: “Đó là tất cả thú tiêu dao của ông”!

Dấu tích tháng năm phủ đầy những binh khí của “hùm xám”. Lão võ sư dường như không màng gì đến những kỷ vật ấy. Khi câu chuyện đã mãn, ông còn cho biết: “Mấy hôm trước, cán bộ của Sở Văn hóa – Thông tin có về thăm tôi. Thật tiếc, tôi không còn đủ sức kể lại những gì mà họ muốn biết”.

Những người con của ông gồm: Hà Thị Trinh, Hà Thị Phi, Hà Văn Mao, Hà Văn Đằng, Hà Nhất Linh, Hà Thị Minh Nguyệt đều biết võ, từng tham gia thi đấu hoặc dạy võ. Tuy nhiên, hiện các con của võ sư Hà Trọng Sơn không còn theo nghiệp võ mà đi làm ăn xa.

Võ nghiệp của một võ sư đầu đàn sắp khép lại. Đi giữa hàng chè tàu xanh trong vườn nhà vị võ sư già trong khoảng không vắng lặng, đâu đó như vọng lại câu hát ru: Mặc ai khanh tướng công hầu/Qua (mình) cầu cho hết binh đao qua về/Qua về qua gỡ bùa mê/Trọn lời em bậu hẹn thề cháo rau…

16/10/2015

"Thảo bộ" là bài quyền nhiều thế võ chính, phụ được phối hợp tập luyện liền nhau và liên tục của "bộ pháp", "thủ pháp", "thân pháp" và "nhãn pháp".
Ta đã biết "thảo" là bài quyền phối hợp của nhiều thế võ, nhiều bộ pháp, thủ pháp, thân pháp… và đi từ đơn giản đến phức tạp. Biết vậy, ta phải chú tâm luyện tập cho thuần phục, chính xác, công phu. Từ đó, chắc chắn sức khỏe và võ công của người luyện tập sẽ tiến bộ nhiều.
Sau đây, chúng tôi giới thiệu hai bài "thảo bộ" đơn giản ở phần phối hợp này.
- Thảo Bộ Liên Ba: Thảo gồm ba bộ. Mỗi bộ đánh liền ba lần:
Bộ một: Đánh một "Ngọn Mộc" đâm hai "Ngọn Kim".
Bộ hai: Đánh một "Ngọn Mộc" xóc hai nắm quyền lên theo "Ngọn Thủy".
Bộ ba: Bắt đâm ba "Ngọn Thổ".
a) Những động tác Bái tổ:
Trụ "Ngựa Tứ Bình".
Tiếp đến, đặt ngang bàn chân phải, chân trái bước lên, đứng theo tư thế "Ngựa Kim Kê" tay trái nắm quyền lại, tay phải xòe cương đao, nắm cú quyền tay trái ép sát vào lòng bàn tay cương đao (tay phải) rồi thủ dưới vú bên ngực trái. Mắt nhìn về phía trước.
b) Những động tác ở bộ một:
- Lần 1:
Ở tư thế "bái tổ" chân phải bước lên phía trước một bước và đứng theo "Ngựa Kim Kê" đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay trái giật chỏ về phía sau, thủ ngang hông.
Kế tiếp tay trái đâm quyền thẳng ra phía trước và tay phải lại giật chỏ về sau, quyền thủ ngang hông.
Thủ vào hông xong, tay phải lại đâm quyền thẳng ra phía trước, tay trái lại giật trỏ về sau. Thủ quyền ngang hông. Thủ quyền khi đánh, mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Lần 2:
Đưa bàn chân trái ở phía sau lên thế chỗ bàn chân phải ở trước dời về sau thế chỗ bàn chân trái ở sau, đồng thời tay trái đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Rồi tay phải tiếp tục đâm quyền thẳng ra phía trước, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông. Tiếp đến, tay trái lại đâm thẳng quyền ra phía trước, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông. Khi đánh, mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Lần 3:
Hoán vị bàn chân phải ở sau lên trước thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái rút về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống. Tay trái đâm quyền thẳng ra, tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến, tay phải lại đâm quyền ra, tay trái rút về thủ quyền ngang hông. Mắt nhìn về phía trước trong lúc đánh.
Sau đó xoay "ngựa" và người theo chiều tay trái chuyển về phía sau, và chỉnh "ngựa" đứng đúng theo "Ngựa Kim Kê", tay quyền thủ lên.
c) Những động tác ở bộ hai:
- Lần 1:
Ở tư thế bộ một, ta bước chân phải lên một bước, đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến, hai nách kẹp lại, đồng thời xòe thẳng hai nắm quyền lên trên và dừng lại ở vị trí dước cằm. Mắt nhìn thẳng về phía trước mặt.
- Lần 2:
Tay phải bắt qua và dừng lại bên tai phải, bàn chân trái từ sau đưa lên thế chỗ bàn chân phải ở trước, và bàn chân phải rút về thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay phải rút về thủ quyền ngang hông.
- Tiếp đến, hai nách kẹp lại, xóc thẳng hai nắm quyền lên trên và dừng lại ở vị trí cằm. Mắt nhìn thẳng phía trước.
- Lần 3:
Tay trái bắt qua bên trái, bàn chân phải đưa lên trước thay chỗ bàn chân trái và bàn chân trái chuồi về sau thay chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đánh "ngọn mộc" xuống, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
Kế tiếp, hai nách kẹp sát lại, xóc hai nắm quyền thẳng lên và dừng lại dưới cằm.
Ở tư thế bộ hai, ta xoay "ngựa" và người theo chiều tay trái chuyển ngược mặt trước (mặt tiền lúc bái tổ), chỉnh lại "ngựa Kim Kê", hai tay thủ quyền.
d) Những động tác ở bộ ba:
- Lần 1: Tay phải đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Lần 2: Chân phải đưa ra trước thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái chuồi về sau thay chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đưa lên ngang tai phải, tay trái đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Lần 3: Chân trái lại đưa lên trước, bàn chân trái thế chỗ bàn chân phải, bàn chân phải về sau thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái bắt lên dừng ngang tai trái, tay trái đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
e) Những động tác bái tổ hết bài quyền:
Ở tư thế bộ ba, ta xoay ngược bàn chân trái theo chiều vai bên trái, chân phải bước lên một bước, đứng theo "Ngựa Kim Kê", tay trái nắm quyền lại, tay phải xòe cương đao, tay quyền áp sát vào lòng bàn tay cương đao, thủ ngay dưới vú bên phải, "bái tổ".

16/10/2015

Khi tập luyện võ công, ta thường nghe: "Quyền ba, cước bảy". Từ đó, ta có thể nhận thấy rõ công dụng của "Ngũ Hành Chân". Xét về chiều dài, chân phải dài hơn tay. Do đó, phải luyện tập "Ngũ Hành Chân" cho thuần thục và công phu.
1. Ngọn Kim: (Tập đạp)
Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Thủ quyền lên trước, co chân trước lên, gối cao hơn vế, mình nghiêng về phía sau, phóng chân đạp ra. Lực phát ra dồn ở gót chân. Đặt chân trước xuống đất, rút gối chân sau, xoay người đưa ra phía trước, nghiêng người, phóng chân đạp ra. Cứ thế ta tập liên hoàn. Hai tay thủ quyền, không dang ra.
2. Ngọn mộc:
Tập gạt chân từ trên xuống dưới. Đứng "Ngựa Kim Kê", đưa chân trước lên hơi xéo về phía trước bụng, dừng ở độ cao thích hợp, phát lực gạt chân xuống. Lựa phát ra, dồn ở gót chân và phải luyện đều hai chân.
3. Ngọn Thủy:
Tập đá trước, từ dưới lên. Đứng "Ngựa Kim Kê", gối chân sau rùn thấp, đá tước chân trước lên. Chấm chân trước xuống đất, dồn trọng lượng về chân trước, gối chân trước rùn xuống thấp, đá tước chân sau lên và cứ thế tập liên hoàn. Nên nhớ lực phát ra dồn ở hai gót chân, tay quyền thủ kín.
4. Ngọn Hỏa:
Tập rút chân về, tập bỏ chân tránh né. Đứng "Ngựa Kim Kê", rút gối thủ đòn, hoặc xê dịch chân tránh sang phải hoặc trái, hoặc triển chân, đưa người về phía sau, tay quyền thủ kín, tập đều hai bên.
5. Ngọn Thổ:
Tập đạp gót chân hay bàn chân xuống đất, hoặc găm gối xuống đất. Đứng "Ngựa Kim Kê", thủ quyền, chân trước rút gối cao hơn vế, phóng chân đạp xuống đất. Lực phát ra dồn ở gót chân hay cạnh bàn chân, tiếp đến tập chân sau và tập liên hoàn.
- Tập Di chuyển Ngựa: Di chuyển "ngựa" tức là tập cách hoán vị "ngựa" để thích nghi trong tập luyện và chiến đấu. Di chuyển "ngựa" có nhiều cách. Ở đây, ta tập một vài cách đơn giản.
1. Di chuyển theo Ngựa Biên (2 điểm)
Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Thủ quyền chỉnh về phía trước. Khi tập, ta đưa bàn chân sau (B) đến vị trí bàn chân trước (A) và bàn chân trước (A) bỏ vào vị trí bàn chân sau (B). Cứ thế, ta tập liên tục và tập từ chậm đến nhanh dần lên.
2. Di chuyển theo Ngựa Tứ Bình: (4 điểm)
Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái", chân trái trước, chân phải sau, bàn chân trái trước là điểm A, bàn chân phải sau là điểm B. Khi tập xê dịch, ta đưa B lên B' và A xuống A', và ngược lại A' lên A, và B' xuống B. Cứ thế ta tập đến khi thuần thục. Trong khi tập, tay quyền vẫn thủ.
3. Di chuyển theo Ngựa Ba Chân Hổ: (3 điểm)
Đứng "Ngựa Bát Quái" hay "Kim Kê", chân trái trước, chân phải sau, chân sau hơi xê qua bên mặt độ 5 cm, bàn chân trái là A, bàn chân phải là B. Khi tập di chuyển, ta đưa B lên C và A xuống B rồi ngược lại B lên A và C xuống B. Cứ thế, tập di chuyển cho thuần thục trên ba đỉnh của một đỉnh của một hình tam giác BCA rồi BAC.

23/06/2015

Ngọc trản, ngân đài:
*Ngọc trản: Ở bộ vị, tay phải đưa lên bên bắc lần theo thượng bộ trái qua phải. Cùng lúc chân trái bước lên trước một bước đứng theo tư thế ngựa kim kê. Đồng thời tay trái thủ quyền đâm ra trước theo quy tắc dương-âm quyền; tay phải đánh giật chỏ về sau, thủ dương quyền nơi thắt hông bên phải. Hai mắt nhìn phía trước
*Ngân đài: Ở bộ vị giữ y tư thế, tay trái xòe dương đao, theo hướng đạo từ trái qua phải. Đồng thời, tay phải đánh thẳng nắm lên từ dưới lên trên, cùng lúc dương đao tay trái thủ dưới chỏ tay phải, hông tay bên phải. Hai mắt nhìn phía trước (xem ảnh H.5).
Tả, hữu, Tấn, Khai, Thập tự:
*Tả: Ở bộ vị, tay trái bắt dương đao lên từ phải sang. Đồng thời, chân phải bước lên phía trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc, tay phải đánh âm đao từ trên xuống. Đồng thời, âm-dương đao đâm thẳng ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng trước.
*Hữu: Ở bộ vị, tay phải bắt dương đao lên từ trái sang phải. Đồng thời, chân trái bước tới phía trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay trái đâm đao từ trên xuống. Đồng thời, âm-dương đao đâm thẳng ra trước. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
*Tấn: Ở bộ vị, chân phải ở sau bước tới một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay phải thủ dương quyền, tay trái thủ âm quyền đánh thẳng từ phải, trái vào thủ âm dương quyền nơi trước ngực. Hai mắt nhìn về phía trước.
*Khai: Ở bộ vị, chân phải ở trước bỏ về phía sau một bước, đứng theo tư thế ngựa tứ bình, cùng lúc hai âm-dương quyền mở (xé) từ trong ra hai bên trái, phải ở phần trung bộ. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
*Thập tự: Ở bộ vị, chân phải ở sau giở lên, bỏ nhảy về phía sau một bước, đồng thời ngồi sát xuống, cùng lúc chân trái ở trước kẹp sát nhượng, bàn chân thẳng xuôi lót sát vào mông bên trái, trụ theo ngựa Thập Tự. Cùng lúc tay phải ở sau nắm dương quyền thủ ngang trên trán, tay trái ở trước nắm âm quyền thủ dưới mông bên trái. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Luyện diệp Liên Hoa (Đánh ba lần):
* Lần 1: Ở bộ vị, tay trái bắt âm chưởng lên, từ phải sang trái. Cùng lúc ngửa nhổm đứng lên, chân phải ở sau bước tới trước một bước, đứng tư thế ngựa kim kê. Đồng thời, tay phải đánh dương chưởng theo. Cùng lúc đánh thẳng hai chưởng âm-dương ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Lần 2: Ở bộ vị, tay phải bắt âm chưởng lên từ trái sang phải. Đồng thời tay trái bước tới trước một bước, đứng tư thế ngựa kim kê, cùng lúc tay trái đánh dương chưởng theo. Đồng thời, đánh thẳng hai chưởng âm-dương ra trước. Hai mắt nhìn phía trước.
*Lần 3: Ở bộ vị, tay trái lại bắt âm chưởng lên từ phải sang trái, chân phải ở sau bước tới một bước, đứng tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay phải đánh dương chưởng theo, đồng thời, hai âm chưởng ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Đả sát túc, Tọa, hồi mai phục:
* Đả sát túc: Ở bộ vị, chân trái ở sau đá thẳng ra trước. Ngồi thấp ngựa xuống, cùng lúc tay trái ở trước đâm thẳng nắm quyền từ trên xuống đất. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Tọa, hồi mai phục: Ở bộ vị, chân phải ở sau giở lên cùng lúc nhảy về sau một bước. Tọa ngựa, tay phải thủ dương quyền ngang lên trán. Tay trái thủ âm quyền trước gối chân trái ở trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Tấn đả tam chiến:
* Lần 1: Ở bộ vị, nhổm ngựa lên, chân phải bước tới trước một bước đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay phải đánh dương quyền từ trên xuống, từ phải sang trái. Đồng thời, tay trái ở sau nơi hông bên trái đâm thẳng quyền ra trước theo âm dương quyền. Tay phải thu về thủ nơi hông phải. Hai mắt nhìn phía trước.
* Lần 2: Ở bộ vị, tay trái giữ y tư thế, chân trái ở sau, bước tới trước một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay trái đánh quyền từ trên xuống theo dương quyền. Đồng thời, tay phải ở sau đâm thẳng âm dương quyền từ hông phải ra trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Lần 3: Ở bộ vị, tay phải giữ y thế, chân phải ở sau bước tới một bước, đứng theo tư thế ngựa kim kê. Cùng lúc tay phải đánh quyền từ trên xuống theo dương quyền đồng thời tay trái ở sau đâm thẳng dương âm quyền từ hông trái ra trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Thoái thủ nhị linh:
Ở bộ vị, chân phải ở trước, bỏ về sau một bước, đứng ngựa theo tư thế ngựa kim kê. Đồng thời, đánh thẳng sát hai nắm quyền từ dưới lên trên theo chiều mu bàn tay hướng về phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
Hoành tả, Tọa, Bạch xà lan lộ:
* Hoành tả: Ở bộ vị, chân trái ở trước, bỏ qua bên trái một bước đứng theo tư thế ngựa ngang về bên trái. Đồng thời, tay trái thủ âm quyền ngang trên trán; tay phải thủ dương quyền theo hông bên phải. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.
* Tọa: Ở bộ vị, chân trái ở bên tả, giở lên nhảy về bên trái một bước, đồng thời tọa ngựa xuống. Tay trái thủ âm quyền ngang trên trán, tay phải thủ dương quyền trước gối bên phải. Hai mắt nhìn thẳng về trước.
* Bạch xà lan lộ: Ở bộ vị, chân phải bước tới trước một bước, đứng theo tư thế bộ hạ, cùng lúc thân pháp hướng ra phía trước, ngực bên phải áp sát chân phải ở phía trước. Đồng thời tay phải ở phía trước thủ xà chỉ đánh thẳng từ sau ra trước; tay trái đánh xà chỉ về sau. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.

23/06/2015

Bình Định luôn gợi trong trí mỗi người dân Việt Nam ấn tượng sâu sắc về một vùng đất giàu truyền thống thượng võ, với hồn thiêng sông núi đã hun đúc nên khí chất anh hùng bất khuất, làm nên bao sự tích oanh liệt, góp phần tô thắm vào trang sử vàng của dân tộc. Trên mảnh đất này, từ lâu, võ cổ truyền đã trở thành một phong trào thu hút đông đảo quần chúng tham gia luyện tập.
* Trường tồn cùng thời gian
Người Bình Định vốn mộc mạc, cần cù, giản dị, sáng tạo, nhân ái, kiên cường, dũng cảm và đặc biệt rất khảng khái, hào hiệp. Chính phẩm chất tuyệt vời đó đã hun đúc nên tinh thần thượng võ. Võ cổ truyền Bình Định xuất hiện từ rất lâu. Nhưng trước thời Tây Sơn (khoảng năm 1600), môn võ này còn ở dạng sơ khai. Chỉ đến thời Tây Sơn, võ cổ truyền Bình Định mới phát huy được những tinh hoa. Cùng với sự hưng thịnh của triều đại Tây Sơn, nó đã được xây dựng thành hệ thống võ học, đưa vào hệ thống thi cử, đào tạo tướng sĩ. Đặc biệt, được nghiên cứu và áp dụng triệt để, sáng tạo trong quân sự phục vụ chiến trường. Thời ấy, ở Bình Định, nơi đâu cũng thấy xuất hiện những trường dạy võ. Võ cổ truyền Bình Định thời Tây Sơn hội tụ những tinh hoa giữa các dòng võ, môn phái khác nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp, chắt lọc tìm ra cái tinh túy nhất để bồi đắp, bổ sung vào kho tàng võ học chân truyền của dân tộc. Đó là kết quả của sự giao lưu, hòa nhập giữa các dòng võ và quy tụ nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều võ quan, võ sư nổi tiếng.
Võ cổ truyền Bình Định luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. Chính sức mạnh bất diệt đó đã giúp cho võ cổ truyền Bình Định trường tồn cùng với thời gian. Mặc dù, sau khi Tây Sơn suy thoái, Nguyễn Ánh đã tìm mọi cách để tiêu diệt mọi thành quả của nhà Tây Sơn, nhưng với sức mạnh lâu đời, võ cổ truyền vẫn sống mãi trong lòng nhân dân. Nó vẫn được bí mật truyền dạy trong các nhà chùa hoặc các bìa rừng. Đặc biệt, vẫn được nhiều người tâm huyết nghiên cứu, sưu tầm, lưu truyền sử sách cho con cháu mai sau. Nửa đầu thế kỷ XIX, sự du nhập mạnh mẽ các dòng võ nước ngoài vào Việt Nam vẫn không làm mai một những tinh hoa vốn có của võ cổ truyền Bình Định. Trải qua bao biến cố thăng trầm, ngày nay, võ cổ truyền vẫn giữ được những nét đẹp độc đáo riêng.
* Hội tụ những tinh hoa
Ngày nay, võ cổ truyền đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định. Luyện tập võ nghệ đã trở thành một phong trào thu hút đông đảo quần chúng. Không chỉ có nam nhi; mà cả phái yếu cũng tham gia rèn luyện. Mỗi năm một lần, Sở TDTT Bình Định đều tổ chức giải vô địch các CLB võ cổ truyền trong toàn tỉnh. Giải vô địch hàng năm, đã thực sự trở thành ngày hội tôn vinh những võ sĩ, võ đường nổi tiếng. Người dân Bình Định hăng say luyện tập, bởi võ cổ truyền không chỉ là môn thể thao nâng cao sức khỏe, khai thông tinh thần, mà còn vì nó là "vật gia bảo truyền quý giá" của ông cha để lại.
Người Việt Nam dù đi đâu xa vẫn nhớ về cội nguồn, tổ tiên, tự hào về một dân tộc anh hùng với bao võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống thượng võ hào hùng chống giặc ngoại xâm. Với bốn nội dung cơ bản: Luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần, võ cổ truyền Bình Định đã thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu giữa bên trong với bên ngoài.
Tinh thần nhân bản của võ cổ truyền Bình Định được thể hiện rõ nét ở truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa. Đó là truyền thống quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân đất võ. Ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi gặp gian nguy. Người có võ công càng cao, thì đức lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo.
Luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp phát triển nền võ học chân truyền, cả quá khứ, hiện tại và tương lai là bản chất cốt lõi của võ cổ truyền Bình Định. Chính mục đích cao cả đó, đã góp phần làm nên nét đẹp toàn diện của con người, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà Sở TDTT Bình Định đã có cả một công trình khoa học nghiên cứu về nguồn gốc và đặc trưng của võ cổ truyền, nhằm gìn giữ, tôn vinh, phát huy những thế mạnh vốn có của một môn thể thao giàu truyền thống dân tộc.

23/06/2015

Trong các bộ môn về quyền thuật của võ cổ truyền Bình Định, không thể không đề cập đến bài quyền "Ngọc Trản" bởi lẽ đây là "bài ruột" mang đầy đủ các yếu tố cơ bản và là một trong những bài chính thống, tiêu biểu, được tất cả các môn phái trong tỉnh truyền dạy và phổ biến rộng rãi trong nhân dân từ xưa đến nay.

Bài quyền Ngọc Trản có lối đánh công phu, toàn diện, kín đáo, chắc đòn, kết hợp nhu cương đúng lúc, đúng chỗ. Lại có những thế né tránh, phản đòn rất lợi hại. Di chuyển nhẹ nhàng, nhanh nhạy, linh hoạt, khi trụ ngựa và ra đòn thì vững chắc và mạnh.
Bộ tay ra đòn mạnh, nhanh, chính xác, có lúc vờ như thủ để đánh lừa đối phương, hay dụ đối phương với thế vây hãm để tiêu diệt theo dạng "Hư hư thực thực".
Đặc biệt vừa qua, Ban nghiên cứu (Sở TDTT Bình Định) cũng đã phát hiện một số tư liệu cổ đều có ghi tên bài thiệu về quyền "Ngọc Trản". Để góp phần làm sáng tỏ và đi đến thống nhất tên gọi, lời thiệu với từng động tác một cách chuẩn xác hơn, chúng tôi xin giới thiệu cụ thể bài quyền Ngọc Trản.
Qua bài thiệu cổ mới phát hiện của bài Ngọc Trản, ta nhận thấy tính liên hoàn âm-dương được xuyên suốt.
Ví dụ như: Hoành Tả, Tọa, Bạch xà lan hổ.
Thì: Hữu hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy
Và: Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ,
Thì: Tả hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy.
So sánh các bài thiệu cổ mới phát hiện với bài thiệu đã lưu hành hiện nay có một vài chỗ khác biệt. Có lẽ người đời sau đã ghi nhầm, hay tam sao thất bổn.
Ví dụ: Hoành Tả, Tọa, bạch xà lan lộ.
Thì lại: Tả hoành sát, Thanh long biên giang.
"Hoành Tả" và "Tả Hoành" không mang tính âm-dương, ngũ hành của người xưa về cách cấu trúc một bài võ trong võ cổ truyền Bình Định.
Qua thời gian, bài quyền Ngọc Trản vẫn sáng chói như một chén ngọc. Số vốn quý võ công đã được gói ghém trong đó cũng được lưu truyền cho những người có đạo đức tốt, có tấm lòng vì con người, vì nền võ học của dân tộc.

Ngọc Trản còn có nghĩa: "Ngọc" là sự trong sáng, trung thực, phản chiếu sự vật được thể hiện ý niệm, trí tuệ. "Trản" là san bằng mọi chướng ngại mang tính đối phó ở giai đoạn đầu, tức hóa giải và có hài hòa ở giai đoạn cuối được thể hiện ở tay, chân và thân mình. Trong đó dĩ nhiên cần phải tính đến công sức luyện tập tinh nhuệ của thể chất, ý thức được thống nhất thành một ý niệm duy nhất. Ý niệm đó chuyển toàn bộ như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó là một bí quyết luyện tập của lối quyền âm-dương trong Ngọc Trản công.
a) Nội dung bài thiệu cổ về quyền "Ngọc Trản" được trích trong tập tư liệu Hán-Nôm được phát hiện tại từ đường dòng họ Trương ở xã Mỹ Hòa-Phù Mỹ do ông Trương Đức Hồng cung cấp, ông Phạm Đình Phong sưu tầm.
* Phần Phiên âm:
1. Ngọc Trản ngân đài.
2. Tả, hữu tấn khai thập tự.
3. Luyện diệp liên hoa.
4. Đả sát túc, tọa, hồi mai phục.
5. Tấn đả tam chiến
6. Thoái thủ nhị linh.
7. Hoành tả, tọa, bạch xà lan lộ.
8. Hữu hoành sát thanh long biên giang.
9. Phụ tử tương tùy.
10. Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ.
11. Tả hoành sát thanh long biên giang.
12. Phụ tử tương tùy.
13. Hồi tàng địa hổ.
14. Song phi, quyển dực.
15. Hạ bàn đoản đả.
16. Hồi, tiểu tọa khai cung.
17. Huỳnh long quyển địa.
18. Tấn, đả song quyền.
19. Hoành tả, phục hạc khai linh.
20. Trực tiền quyển địa.
21. Tấn, đả song quyền.
22. Hoành hữu, phục hạc khai linh.
23. Trực tiền quyển địa.
24. Tấn, đả song quyền.
25. Hướng, hậu đả thập tự.
26. Diện tý.
27. Hồi, tẩu mã giang tiên.
28. Bái tổ, lập như tiền.
* Dịch nghĩa:
1. Chén ngọc đài vàng.
2. Tiến, mở thế chữ thập bên trái và bên phải.
3. Chọn lá liền hoa.
4. Đánh sít chân, tọa thế "hồi mai phục".
5. Tiến, đánh ba bận.
6. Lui, hai tay sắc sảo.
7. Xoay trái, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
8. Chém ngang bên phải bằng thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
9. Thế cha con nương tựa nhau.
10. Hoành bên phải, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
11. Hoành bên trái quét thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
12. Thế cha con nương tựa nhau.
13. Trở về thế rắn hổ đất núp.
14. Đá song phi (hai chân bay) rồi thế chim cuốn cánh.
15. Đánh vắt mâm dưới.
16. Về, tọa, xổm mở cánh cung.
17. Thế rồng vàng cuốn đất.
18. Tiến đánh hai đấm.
19. Xoay trái, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
20.Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
21. Tiến đánh hai đấm.
22. Xoay phải, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
23. Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
24. Tiến đánh hai đấm.
25. Chuyển phía sau đánh thế chữ thập.
26. Mặt nhìn hướng tý (hướng Bắc).
27. Trở về thế "tẩu mã giang tiên" (ông tiên ruổi ngựa trên sông).
28. Vái tổ, đứng như trước.
b) Những động tác trong bài quyền Ngọc Trản:
- Đứng theo tư thế dịch cân, thủ môn hiệu theo võ Bình Định, lễ tổ, mắt nhìn thẳng ra phía trước.
- Ở bộ vị (xem ảnh H.1), trụ ngựa theo tư thế ngựa tứ bình. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Ở bộ vị (xem ảnh H.2), dương quyền ở hai tay trái và phải ở bộ vị, xòe hai chưởng, sau đó tay phải theo dương chưởng, tay trái theo âm chưởng, áp sát vào nhau thủ sát nơi chấn thủy. Bái tổ. Hai mắt nhìn thẳng.

23/06/2015

Thảo gồm bảy bộ giống nhau, được phân ra để đánh: Mặt trước ba bộ, mặt sau ba bộ, về mặt trước đánh thêm một bộ; mỗi bộ gồm bốn ngọn: Chần, Đâm, Móc, Hắt Giật.
a) Những động tác "bái tổ"

Những động tác "bái tổ" ở "thảo thất bộ" có kèm theo cách hít thở khởi đầu của môn nội công. Cần chú ý luyện tập hít thở cho đều:
- Trụ "Ngựa Tứ Bình", hai tay thủ ngửa ngang hông. Mắt nhìn thẳng ra phía trước
- Kẹp sát hai nách, từ từ đưa hai nắm quyền lên, vừa đưa lên mũi vừa hít vào (chú ý: răng hàm cắn sát, môi khép lại, đầu lưỡi tựa vào chân răng hàm trên, hít vào thở đều bằng mũi) và dừng lại khi hai nắm quyền tới hai chân mày (xem ảnh H.2)

- Bây giờ cong hai mu bàn tay đổi lại, từ từ đâm thẳng hai nắm quyền xuống đất và từ từ thở ra, dừng lại khi hai nắm quyền tới hạ bộ (xem ảnh H.3).
- Tay tới hạ bộ, xoay đầu hai nắm quyền vào bụng đẩy ngược lên, vừa đẩy lên, vừa hít vào, ta dừng lại khi hai tay thẳng ở trước.
- Hai cánh tay ép sát lại, từ từ rút về, thủ quyền ngang hông, vừa rút quyền về, vừa thở ra.
b) Ba bộ mặt trước:
- Bộ một: Ở tư thế "Ngựa Tứ Bình", bàn chân trái xoay ngang theo chiều vai trái, chân phải bước lên một bước, đứng theo "ngựa kim kê", tay phải chần từ trái sang phải.
Kế tiếp tay trái đâm quyền thẳng ra, tay phải lại giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Bây giờ tay phải lại móc "ngọn thủy" lên, đồng thời cổ tay phải tì sát với cổ tay trái.
Ở tư thế này phải bắt nắm quyền tới phía trước, tay trái giật chỏ về sau và thủ quyền ngang hông.
- Bộ hai: Bàn chân trái đưa lên thế chỗ bàn chân phải, bàn chân phải chuồi về sau thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái "chần" xuống từ mặt chân trái, tay phải rút về thủ ngang hông.
Tiếp đến tay phải lại đâm "ngọn kim" ra, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến tay trái móc "ngọn thủy" lên, đồng thời cổ tay trái ép sát cổ tay phải.
Ở tư thế đó, tay trái hắt nắm quyền ra trước, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Bộ ba: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái và bàn chân trái lui về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời chân phải "chần" xuống từ trái sang phải, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải rút về thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc "ngọn thủy" lên, chéo quyền với tay trái.
Tiếp đến tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Đánh xong bộ ba, ta xoay người về phía sau theo chiều vai trái. Hai tay quyền vẫn thủ theo, ta chỉnh lại, đứng theo "ngựa kim kê".
c) Ba bộ mặt sau:
- Bộ một: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái rút về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời, tay phải "chần" xuống, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm quyền thẳng ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Bây giờ tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
- Bộ hai: Bàn chân trái đưa lên thế chỗ bàn chân phải, chân phải rút về thế chỗ chân trái, đồng thời tay trái "chần" xuống, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại đâm thẳng quyền ra, tay trái lại giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay phải.
Bây giờ tay trái hắt nắm quyền ra trước, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
- Bộ ba: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, chân trái rút về thế chỗ chân phải, đồng thời tay phải "chần" xuống, tay trái rút về về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Đánh xong bộ ba ở mặt sau, ta xoay người sau theo chiều vai trái trở lại mặt trước, tay vẫn thủ quyền, chỉnh lại tư thế đứng theo "ngựa kim kê".
d) Bộ thứ bảy ở mặt trước:
Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, chân trái rút về thế chỗ chân phải, đồng thời tay phải "chần" xuống, tay trái rút về về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Sau đó, tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
e) Những động tác bái tổ:
Chân phải rút ngựa về sau, theo ngựa kim kê, tay trái thủ ra trước, tay phải rút về thủ ngang hông, hạ ngựa xuống, vế ngang gối, mắt nhìn về trước, bái tổ.

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


36 Trần Phú, Quận Ba Đình
Hanoi
100901