VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Share

Chào mừng bạn đến với trang chính thức của Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam. https://www.facebook.com/ldvtctvn.net/

Photos from VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM's post 05/12/2022

NGUYỄN TẾ CÔNG VÀ HÀNH TRÌNH TRUYỀN BÁ VỊNH XUÂN VÀO VIỆT NAM

Vịnh Xuân Quyền được truyền bá vào Việt Nam chủ yếu do công của tôn sư Nguyễn Tế Công – người được đa số các võ sư Vịnh Xuân hiện nay coi là sư tổ của Vịnh Xuân Việt Nam.

Vịnh Xuân Quyền ra đời cách đây khoảng 400 năm do Ngũ Mai sư thái được coi là sư tổ sáng tạo ra những chiêu thức tiền khởi của Vịnh Xuân Quyền. Bà truyền cho đồ đệ là nàng Nghiêm Vịnh Xuân, con gái của một danh thủ quyền thuật dòng Nam Thiếu Lâm tên là Nghiêm Nhị.

Kể từ đó trở đi, võ Vịnh Xuân Quyền được truyền lại cho các thế hệ sau, tuy nhiên mỗi đời sư phụ chỉ được truyền võ công lại cho 1 học trò. Tuy nhiên kể từ đời thứ 7, hai học trò của Lương Bích, Trần Hoa Thuận là Nguyễn Tế Công và Diệp Vấn đã giúp Vịnh Xuân Quyền được truyền bá rộng rãi.

Nguyễn Tế Vân (Yuen Chai Wan) hay còn gọi là Nguyễn Tế Công sau này, ông sinh năm 1877 tại Quảng Đông, được phó thác sứ mệnh là Tổ sư Vịnh Xuân tại Việt Nam. Nguyễn Tế Vân được gia đình gửi đến học tại một người quen của gia đình là Vịnh Xuân Lương Tán. Chàng thanh niên bắt đầu con đường sống tại nơi ở của “Vua” Vịnh Xuân. Chàng được học cùng Lương Xuân và Lương Bích và các môn sinh khác. Ngày qua ngày, chàng thanh niên đã hoàn toàn trưởng thành và đã đạt tới trình độ võ nghệ cao, chàng tham gia chống giặc ngoại xâm và triều đại Nhà Thanh Mãn Châu.

Nhận thấy những khả năng đặc biêt của học trò, sư phụ Lương Tán khuyến khích chàng tham gia phong trào giải phóng Trung Hoa khỏi ngoại xâm và ách thống trị độc đoán của triều đại Nhà Thanh Mãn Châu. Khi Nguyễn Tế Vân trở thành một con người chín chắn, chàng quyết định đi tới miền Nam Trung Hoa. Trước khi ly biệt, sư phụ đã căn dặn môn sinh yêu quý của mình nhiều điều, mong muốn chàng tiếp tục hoàn thiện trình độ võ nghệ, phát triển Vịnh Xuân tại nơi sinh sống và đã truyền giáo cho chàng những miếng võ bí truyền của Vịnh Xuân và những miếng võ và kinh nghiệm của riêng mình chỉ dành cho những môn sinh xứng đáng được tiếp cận với bí truyền của môn phái.

Nguyễn Tế Vân đã tham gia vào các cuộc khởi nghĩa 1906-1908, 1910, 1911. Từ đó tiếng tăm về võ nghệ và trình độ quân sự của chàng bắt đầu nổi lên.

Nguyễn Tế Vân không ngừng rèn luyện thể xác và tinh thần khi luyện tập Vịnh Xuân. Ông còn có các môn sinh rất chăm chỉ. Có một thời Diệp Vấn cũng theo học ông, Trần Hoa Thuận và Lương Bích. Về sau, Diệp Vấn trở thành chưởng môn chi phái Vịnh Xuân quyền Hồng Kông.

Khi 59 tuổi Nguyễn Tế Vân quyết định từ quan và sống một cuộc sống yên bình để tập trung nghiên cứu Vịnh Xuân quyền và truyền dạy môn sinh. Năm 1936 là một năm đầy những sự kiện và biến chuyển. Khi ông từ quan, kẻ thù và những người gọi là “bạn bè” bắt đầu gièm pha, vu khống nhằm mục đích hạ thấp uy danh của ông. Với bản lĩnh và kinh nghiệm của người đã từng hoạt động bí mật ông đã thoát khỏi những kẻ “tốt bụng”, sau đó ông đổi tên thành Nguyễn Tế Công và rời bỏ đất nước Trung Hoa

Với sự giúp sức của môn sinh, năm 1936 chưởng môn đã rời bỏ tổ quốc trên một chiếc thuyền buôn và đến cảng Hải Phòng. Từ nơi cư ngụ mới, ông luôn theo rõi các sự kiện ở Trung Hoa và mong chờ một sự biến đổi, nhưng những tin tức ông nhận được từ Diêu Tài, một môn sinh đồng thời là một người bạn của ông, đã làm tiêu tan mọi hy vọng trở về quê hương của ông. Và năm đó ông quyết định đến Hà Nội để định cư lâu dài. Sau khi ổn định cuộc sống mới, do tuổi đã cao nên Tế Công không muốn có nhiều biến động nữa. Lúc đó có rất nhiều hoa kiều đã biết tiếng tăm của ông, nhiều người còn biết ông như một quan võ, là một ông lang giỏi đồng thời là một võ sư Vịnh Xuân. Tế Công và môn sinh Chen Tai được một cao niên, rất danh giá tên là Dai Li Jai có tổ tiên sống ở Việt Nam từ năm 1805 mời đến dinh thự.

Hai bên dốc bầu tâm sự, và Dai Li Jai nhận thấy Tế Công là một con người có tâm hồn thanh cao và uy đức nên đã ra sức thuyết phục ông nhận lời dạy Vịnh Xuân cho người Hoa để gìn giữ văn hóa và truyền thống của quê hương.

Thời kỳ đó thái độ của người Việt đối với người Hoa chưa được nồng ấm, nên lúc đầu Tế Công chưa có môn sinh là người Việt. Nhưng do có nhiều gia đình danh giá trong cộng đồng người Hoa có quan hệ họ hàng với người Việt và đã có nhiều người không còn thuần là Hoa kiều nên mối quan hệ với người Việt dần dần trở nên khăng khít và thân ái.

Tế Công ngày càng được nhiều người dân địa phương quý mến và coi ông là một thầy thuốc giỏi, giàu kinh nghiệm. Khi tiếp xúc với người dân địa phương, ông nhận thấy họ là những con người tốt bụng và dễ mến, nên ông đã bắt đầu tiếp nhận các môn sinh mới là người địa phương.

Năm 1955 ông vào Sài Gòn, sống ở Chợ Lớn và tiếp tục truyền dạy võ nghệ. Môn sinh rất yêu quý và kính trọng thầy, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ thầy trong những thời khắc khó khăn của cuộc sống.

Đại sư Tế Công đã coi Việt Nam là quê hương thứ hai của mình và hết lòng truyền dạy Vịnh Xuân cho các môn sinh. Năm 1960 ông qua đời ở tuổi 84, để lại ở Việt Nam một kho tàng kiến thức đồ sộ về Vịnh Xuân. Các môn sinh của ông đã gìn giữ và phát huy kho tàng kiến thức này và truyền bá từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đại sư Nguyễn Tế Công đã được các môn sinh suy tôn là Sư tổ Vịnh Xuân Việt Nam.

Photos from VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM's post 01/09/2022

VÕ SƯ HÀ CHÂU LÀ KỲ NHÂN THẾ GIỚI VỚI TRÌNH ĐỘ VÕ CÔNG CAO THÂM ĐẾN MỨC VƯỢT QUA NHIỀU QUY TẮC VẬT LÝ; THÁCH THỨC GIỚI KHOA HỌC.
Võ sư đại lực sĩ Hà Châu là tên và danh hiệu của một võ sư nổi tiếng tại Việt Nam. Ông nổi danh với trình độ võ công cao thâm đến mức vượt qua nhiều quy tắc vật lý thông thường, chứng minh những khả năng đặc biệt mà người bình thường có thể đạt tới thông qua tập luyện võ thuật. Ông là một trong số ít những cao thủ hàng đầu về ngạnh công trên thế giới và là chưởng môn của môn phái Thiếu Lâm Hồng gia chính tông tại Việt Nam.
Nói tới trình độ khí công và ngạnh công, trên cả thế giới này hiếm cao thủ nào có thể đem ra so sánh được với Hà Châu –Chưởng môn phái Thiếu Lâm Hồng gia Việt Nam.
Võ sư Hà Châu là một trong 3 kỳ nhân võ thuật thế giới và cũng là cao thủ hàng đầu về ngạnh công trong làng võ Việt Nam từ cổ chí kim.
Trong sự nghiệp võ thuật của mình, võ sư Hà Châu từng nhiều lần gây sốc với những màn biểu diễn đã đi vào huyền thoại. Thậm chí tới những nhà khoa học trên thế giới cũng phải sốc và “không thể tin nổi”.

CUỘC ĐỜI VÀ VÕ NGHIỆP
Ông sinh ngày 19 tháng 8 năm 1924 tại Hồng Kông, trong một gia đình người Hoa có truyền thống võ thuật lâu đời. Từ nhỏ, ông theo cha sang Việt Nam sinh sống ở vùng Ba Xuyên (nay là Sóc Trăng), từ đó ông gắn bó suốt cuộc đời mình với đất nước Việt Nam.
Được cha là Hà Chung khai tâm võ thuật từ lúc lên 5 tuổi, đến khi lên 9 tuổi ông được cha gửi trở lại Hồng Kông theo học Thiếu Lâm Hồng gia phái cùng chưởng môn đương thời là Trình Luân. Tương truyền, đây là môn phái võ thuật xuất phát từ Thiền sư Chí Thiện, một trong những cao đồ của Thiếu Lâm Tự đời Thanh.
Sau 15 năm khổ luyện dưới sự chỉ dạy tận tình của danh sư tại Hồng Kông, ngoài tinh thông các bài quyền và binh khí của môn phái, ông còn đạt đến trình độ thượng thừa về nội công và ngoại công, với những khả năng khó tin về năng lực đặc biệt của con người như dùng tay chẻ đá, xé gỗ, hoặc cho xe lớn cán qua thân thể một cách tự nhiên. Một trong kỹ thuật nổi tiếng nhất của ông là Thiên cân trụy (hay Thiên cân tạ), được xem là một tuyệt kỹ của Thiếu Lâm thất thập nhị huyền công.
Sau khi trở về miền Nam Việt Nam, ông cùng võ sư Minh Cảnh, người từng vô địch quyền Anh ở Đông Nam Á trong thập niên 1950, lập đoàn lưu diễn từ miền Nam tới miền Trung. Võ sư Cảnh đấm bốc, Hà Châu biểu diễn công phu và giao đấu với những con bò khỏe nhất. Trước năm 1957, ông còn nhiều lần biểu diễn công phu thượng thừa tại Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, gây kinh ngạc cho những người chứng kiến.
Đầu thập kỷ 1970, ông gần như rút lui khỏi giới võ thuật. Năm 1974, một người bạn của ông là hiệu trưởng trường trung học Tân Dân ở Mỹ Tho đã đưa ông vào làm giám học. Đầu năm 1975, người bạn này cũng đề bạt ông làm hiệu trưởng trường Dân Trí tại Cái Bè.
Tuy nhiên, sau tháng 4 năm 1975, và trong nhiều năm sau đó, ông mai danh ẩn tích, lui về Mỹ Tho sống bằng nghề phay tiện cho Xí nghiệp dệt Hồng Gấm. Những năm sau đó, ông lưu lạc nhiều nơi từ Tiền Giang, Long An, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1976, ông từng được cấp bằng sáng chế "máy phay biên dạng thoi" đạt kỹ thuật bậc 7/7 khi là công nhân xưởng cơ khí dệt Bến Nghé, Bình Thạnh. Với những kinh nghiệm cũng như tay nghề phay tiên, ông từng chế tạo nhiều dụng cụ hỗ trợ cho luyện tập thể thao và võ thuật, đặc biệt là một dụng cụ tập công phu Thiên cân trụy bằng phương tiện đơn giản dựa trên nguyên lý đòn bẩy rất hiệu quả.
Đầu thập niên 1980, chính quyền Việt Nam cho nới lỏng những hạn chế việc tập luyện võ thuật trong dân chúng. Một số võ đường được phép thành lập. Nhiều võ sư nổi danh từ trước 1975 bắt đầu các hoạt động quảng bá võ thuật tại nhiều địa phương, trong đó có cả võ sư Hà Châu. Năm 1985, sau 30 ngày biểu diễn ở Thủ Thừa Long An theo lời mời của phòng văn hóa thông tin huyện, võ sư Hà Châu bị buộc phải rời khỏi huyện vì những công phu của ông khiến người ta kinh ngạc, cho rằng không thể có ở người bình thường và theo lời ông kể lại, mọi người đã cho rằng "thầy bùa Hà Châu mang tà giáo vào huyện". Năm 1987, sau 45 ngày huấn luyện cho xã đội An Phú ở Thủ Đức, ông cũng bị buộc phải ra đi theo lệnh khẩn của ông chủ tịch cùng một lý do như ở Long An nói trên.
Năm 1988, ông quay lại An Khánh biểu diễn và gặp lại các học trò cũ, trong đó có võ sư Nguyễn văn Dũng - trưởng bộ môn võ thuật thuộc biên chế Phòng Văn hóa thông tin – Thể dục thể thao huyện Di Linh. Với sự giúp đỡ của các đệ tử, ông đã ở lại và định cư ở An Khánh cho đến cuối đời. Tuy gặp nhiều khó khăn trong quảng bá võ thuật thông qua biểu diễn những khả năng công phu đặc dị, nhưng ông không nản chí và đã đóng góp nhiều trong việc hình thành Hội võ cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh. Trong căn nhà của ông tại Cư xá Công nhân, An Khánh, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, ông dạy Nguyễn văn Dũng luyện tập nhuần nhuyễn từ những kỹ thuật; tuyệt kĩ cho đến những bài như Thiết tuyến quyền, Hổ hạc song hình quyền, Cung tự phục hổ quyền, Dạ hổ xuất lâm, Hắc hổ quyền, Phá sơn quyền, Ngũ hình quyền, Thập hình quyền, Ngũ lang bát quái Côn, Đơn đao, Song đao, Mễ (Ghế Ngựa), Đinh Ba, Côn Tam Khúc… Ngày lễ Xuất Sư ông trìu mến nói: “từ nay con tên Hà Dũng”.
Theo lời kể của Sư trưởng Nguyễn văn Dũng là Cao đồ của ông, thì: Những năm 1990, ông "mang chuông đi đánh nước người", lưu diễn ở châu Âu với chuyến du hành đến Liên Xô năm 1990 và Ý năm 1991. Trong lần biểu diễn tại Liên Xô, ban tổ chức lo tất cả cưa, ván, búa, đá, gạch thẻ, dừa khô để ông biểu diễn các công phu đặc dị, trong đó có công phu đưa xe lu nặng cán qua người. Nhưng đến giờ chót xe không đưa vào được vì cửa nhà hát quá nhỏ. Tại Ý, võ sư đã có hơn một tháng rưỡi biểu diễn và giảng dạy võ thuật tại thủ đô, và cả miền Bắc, miền Trung nước Ý. Chuyến đi Ý ông được nhận rất nhiều tiền thù lao, nhưng khi về nước tay trắng vẫn hoàn tay trắng, vì những người chịu trách nhiệm giữ hộ tiền cho ông đã "quên gửi lại".
Trong cuốn sách: Sáu Khuôn Mặt Võ Lâm Việt Nam của Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh năm 1992. võ sư Hà Châu tâm sự: “Thầy đã đi qua nhiều nơi, mở nhiều võ đường, nhận nhiều môn sinh, thiết tha truyền thụ và đặc biệt có hàng ngàn lá thư của hàng ngàn người khắp nơi trong và ngòai nước gửi về xin được làm đệ tử của ông, nhưng đến nay võ sư Hà Châu vẫn chưa có môn đệ chân truyền, ngoài võ sư Nguyễn Văn Dũng ( Hà Dũng là tên do ông đặt ), trưởng bộ môn Võ thuật thuộc biên chế Phòng Văn hóa thông tin – Thể dục thể thao huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng học thành công được công phu Thiết sa chưởng, Thiết thủ công, Thiết kiều công… mà theo ông, võ sư Nguyễn Văn Dũng đạt được kết quả như thế cũng đã đánh đổi biết bao thời gian khổ luyện và cay đắng cùng ông…”. Đến nay võ sư Nguyễn Văn Dũng vẫn đang duy trì huyết mạch của môn phái trên Cao nguyên Di Linh.
Sau 45 năm gắn liền cùng nghiệp võ với hàng trăm lần phô diễn tuyệt đỉnh công phu khiến khán giả phải đứng tim vì hồi hộp, năm 1997 lão võ sư đã làm lễ "rửa tay gác kiếm", quay về đời thường sinh sống bằng nghề rèn binh khí. Ở tuổi 81 ông vẫn luyện tập và lao động cật lực từ sáng tới chiều. Ông cũng chứng tỏ năng lực "văn võ song toàn" của bản thân khi thử sức trên nhiều lĩnh vực như điêu khắc, hội họa, thơ Đường, viết thư pháp với bút lực mạnh mẽ thuộc hàng hiếm có với phong cách thư họa ông từng luyện khi học võ ở Hồng Kông hồi trẻ.
Võ sư Hà Châu đã truyền dạy sở học của mình cho rất ít đệ tử. Ông cũng hiểu rằng, một mai khi ông nằm xuống, mọi công phu tuyệt kỹ của ông sẽ bị chôn vùi, vì các con ông lo mưu sinh không ai nối nghiệp cha và các võ sinh của ông hầu hết đều không có đủ thời gian, điều kiện để khổ luyện. Ông cho rằng mình ít nhiều đắc tội với tiền nhân hậu thế của võ phái vì điều đó và khát khao mong mỏi trước câu hỏi không lời đáp, rằng có ai sau ông sẽ làm được những điều ông đã từng làm.
Tuy nhiên, võ sư Hà Châu không mở võ đường vì cho rằng học võ phải chọn đúng người có đức. Ngoài Nguyễn văn Dũng được ông nói đến trong cuốn sách Sáu Khuôn Mặt Võ Lâm Việt Nam, cuối đời, ông đã thâu nhận thêm đệ tử là võ sư người Pháp Philippe Gaudin. Theo nguồn tin của chúng tôi thì đến nay Nguyễn văn Dũng vẫn đang duy trì huyết mạch của môn phái trên cao nguyên Di Linh, và được báo Báo Thể Thao Ngày Nay tặng danh hiệu: “ Người thắp sáng ngọn đuốc Di sản văn hóa truyền thống hào hùng của dân tộc ”. Do những đóng góp to lớn cho Môn phái, nên Nguyễn văn Dũng đã được ông trao kiếm. Được sự chấp thuận của ông và Chính quyền địa phương, Võ đường Hà Dũng được thành lập năm 1988. Thế mạnh của Võ đường Hà Dũng là chuyên đào tạo võ sĩ thi đấu đối kháng; thường xuyên cử võ sĩ thi đấu tại các sàn đài đối kháng tự do (loại võ đài này ngày nay đã bị cấm) và đã đạt được nhiều thành tích; như các võ sĩ: K Tin, K Brim, Ya Đăng, K Brựt, K Brét, Nguyễn Hoàng, Lâm Phạm Hồng Đức, Cao Thị Ánh Nguyệt, K Ngheo, K Brốp, KGêm, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Thị Thúy Hằng...
Võ sư Hà Châu mất ngày 20 tháng 10 năm 2011 tại bệnh viện An Sinh thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 87 tuổi. Trải qua hơn mấy mươi năm, Võ đường Hà Dũng có lúc thịnh lúc suy, nhưng Sư trưởng Nguyễn văn Dũng luôn duy trì huyết mạch của Môn phái thông suốt đến nay trên Cao nguyên Di Linh.

KỲ TÍCH CÔNG PHU
Người dân Việt Nam ở Cà Mau, Gia Định, Cần Thơ và Gò Vấp đều đã từng nghe danh hay chứng kiến tận mắt năng lực thượng thừa của võ sư Hà Châu, một con người với vóc dáng mảnh khảnh rất Á Đông không hề cao to lừng lững như một đô vật. Rất nhiều lần ông khiến mọi người kinh hãi và thán phục khi để cho những chiếc xe đò chở 40 đến 50 người lăn bánh ngang qua người ông.
Năm 1957, một kỷ niệm buồn với võ sư, trong một hội chợ khi người dân chen chân nhau xem ông thi triển công phu Song mã phanh thây, hai tay ghì chặt dây xích giữ hai chiếc xe tải chạy về hai hướng ngược nhau khiến bánh xe quay tít tại chỗ mà xe không thể nhúc nhích, chiếc cầu Thị Nghè Sài Gòn đã bị sập khiến một số người bị thương và bị chết.
Năm 1958, tại bờ hồ Xuân Hương, Đà Lạt, ông nằm cho 10 chiếc xe khách mỗi xe chở 50 khách lần lượt cán qua người, trong một chương trình nhằm giúp ban tổ chức thu tiền cứu trợ các nạn nhân bị chết do sập cầu Thị Nghè năm 1957.
Năm 1961, tại Trà Vinh võ sư đã biểu diễn công phu cho một xe lu để cán đá làm đường nặng hơn 12 tấn chạy lên người ông khiến mọi người như đứng tim, nín thở vì tưởng có thể ông sẽ bị nghiến nát dưới bánh xe to lớn và cứng như sắt này. Đây cũng là một trong những lần biểu diễn kéo dài 3 phút nguy hiểm nhất của võ sư, mà theo ông thú nhận, ông chỉ còn có thể chịu đựng được khoảng 30 giây nữa trước khi có thể bị xe nghiến "bẹp như tờ giấy". Bởi vì người lái xe ấy, một người Việt gốc Miên, do mất bình tĩnh đã khiến xe bị tắt máy khi đang lăn trên người ông. Dư luận đồn rằng có thể có âm mưu ám sát ông, tuy nhiên, theo lời ông nhận định, đây chẳng qua do anh lái xe đã quá sợ hãi, vì trước khi diễn anh lái xe còn cột càng gạt đất lên và bỏ bớt củi (xe chạy bằng củi) cho xe bớt nặng. Danh hiệu "võ sư đại lực sĩ" gắn với tên tuổi của võ sư Hà Châu có lẽ xuất phát từ lần biểu diễn này.
Vào năm 1962, tại Cà Mau, võ sư Hà Châu đã dùng tay không xiết cổ một con bò mộng hung dữ. Lần biểu diễn tại Cà Mau này, bò mộng phải đi thuê nhưng chủ bò đề ra yêu cầu không được làm bò chết, chỉ giữ cho nó chổng vó lên trời. Tuy nhiên, trong nhiều lần biểu diễn màn bẻ cổ bò tại Cà Mau, Đà Nẵng sau này, đã có lần ông bẻ gãy cổ làm bò bị chết và phải đền cho người chủ.
Sau năm 1975 dân chúng Sài Gòn không còn gặp lại con người có sức lực phi thường huyền thoại này nữa, và ai cũng tưởng vị võ sư đã qua đời vì võ sư Hà Châu có rất ít đệ tử, ngoài võ sư Nguyễn văn Dũng được ông nói đến trong cuốn sách Sáu Khuôn Mặt Võ Lâm Việt Nam, nên ít người biết tin tức về ông. Bất ngờ vào năm 1988, nghĩa là mãi 13 năm sau, võ sư Hà Châu lại xuất hiện và lần này con người siêu đẳng ấy lại khiến cho đồng bào thán phục khi ông dùng tay không để đóng những cây đinh dài vào gỗ rồi lại dùng 2 ngón tay kẹp đinh nhổ ra như người ta dùng kìm nhổ đinh vậy. Với công phu Bạt đinh công này, ông đã khẳng định nội công thượng thừa của mình vang dội cả trong Nam lẫn ngoài Bắc.
Tại sân vận động Hàng Đẫy Hà Nội trong thập niên 1990, võ sư Hà Châu đã từng biểu diễn những công phu tuyệt đỉnh, như bay người lên dùng một ngón tay (Nhất dương chỉ) chọc thủng quả dừa khô được tung lên trên không, hay dùng cạnh tay chặt sợi dây buộc vào hai dóng mía dựng hai bên, sợi dây đứt nhưng các dóng mía không hề bị đổ.
Trong một pha biểu diễn về khả năng lạ lùng của thuật khinh công, võ sư Hà Châu đã nằm trên 12 cái siêu bằng đất đồng thời còn cho đặt lên người 150 kg đá tảng. Sau đó một người dùng búa tạ đập cực mạnh lên các đá tảng ấy cho vỡ nát mà các siêu đất ở dưới thân mình ông không bị sứt mẻ gì.
Ngoài ra, võ sư Hà Châu còn nhiều lần dùng cần cổ của mình uốn một thanh sắt dày làm nhiều vòng quanh cổ mà ông không hề hấn gì, hoặc dùng hộp sọ cứng như thép húc vào những bức tường cứng chắc xây dựng toàn bằng xi măng, đá tảng khiến bức tường bị thủng toác một lỗ rất sâu. Sau này, khi đã cận kề tuổi 70, có lúc ông định diễn tiết mục mang tên "Quả bom tấn" tại Câu lạc bộ Phan Đình Phùng: ông nằm dưới đất, phía trên dùng ròng rọc kéo tảng đá nguyên khối nặng 300 kg lên hết độ cao của mái nhà rồi chặt dây thả xuống ngay ngực ông đang vận khí đề công khiến tảng đá vỡ tan. Nhưng trước đó mấy ngày báo chí rùm beng chuyện "đại lực sĩ Hà Châu bị bỏ bom", xét thấy quá nguy hiểm, những người có trách nhiệm đã không đồng ý cho ông biểu diễn tiết mục này.
Gần đây nhất, khán giả Thành phố Hồ Chí Minh lại tận mắt chứng kiến phong độ xứng danh kỳ nhân thiên hạ của võ sư Hà Châu ở tuổi 82 (ngày 17 tháng 9 năm 2006) khi ông biểu diễn công phu Thiết đầu công, dùng đầu phá tan ba viên gạch và chặt gãy chân ghế trong chương trình "Cửu long hội ngộ" do nhạc sĩ Hoài An cũng là người hâm mộ võ thuật đứng ra tổ chức với sự tài trợ của công ty Việt Nam game online tại sân vận động thể dục thể thao quân khu 7 của quân đội tại thành phố Hồ Chí Minh.

ĐÁNH GIÁ CỦA THẾ GIỚI
Trong chuyến lưu diễn và giảng dạy võ thuật tại Ý năm 1991, được thưởng thức những công phu đặc dị do ông thi triển, người Ý đã kinh ngạc thán phục gọi ông là "ummo", tức "người ngoài hành tinh".
Trong giới võ thuật Việt Nam, danh tiếng của võ sư đại lực sĩ Hà Châu rộng khắp thế giới. Thế giới đã thừa nhận ông là một trong tam đại kỳ nhân có khả năng phi thường- thành tích phi thường nhất của ông đó là để 1 chiếc xe lu 12 tấn cán qua người .
Sức lan tỏa của năng lực phi thường Hà Châu lan rộng khắp thế giới. Đến nỗi Dorling Kindersley, một nhà xuất bản có uy tín hàng đầu thế giới đã giới thiệu võ sư Hà Châu trong sách “Những người có khả năng siêu phàm” bán khắp thế giới được ấn hành năm 1991 và tái bản năm 1992. Trong quyển sách trên, nhà xuất bản Dorling Kindersley giới thiệu 3 nhân vật có khả năng siêu phàm: Một thuật sĩ Yoga người Ấn Độ có khả năng chôn sống dưới cát hàng tháng; Võ sư Nhật Bản Hohan Soken (1889-1982) thuộc gia tộc Matsumura có khả năng biểu diễn bài quyền Bạch hạc trên tấm ván thả nổi trên mặt nước; Hà Châu, võ sư đại lực sĩ của Việt Nam với nhiều tuyệt kỹ công phu kỳ dị. Danh tiếng Hà sư phụ đã trùm cả cộng động võ thuật quốc tế.

Photos from VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM's post 28/06/2022

Những huyền thoại Võ thuật Việt Nam: Võ sư Hồ Ngạnh – Võ sư huyền thoại về roi
Nói đến roi của Võ thuật cổ truyền Việt Nam, nhiều người nghĩ ngay đến Roi Thuận Truyền – Bình Định. Sự liên tưởng đó hoàn toàn có cơ sở trên những kỳ tích của các bậc thầy về quyền và roi một thời danh bất hư truyền trên miền đất võ.
Người nổi tiếng nhất và cũng gần như là một võ sư huyền thoại về roi, đó là võ sư Hồ Ngạnh.
Võ sư Hồ Ngạnh tên thật là Hồ Nhu, nguyên quán thôn Háo Nghi, xã Bình An, sinh năm Ất Mão, 1891 tại thôn Hoà Bình, xã Bình Thuận, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Thân sinh võ sư Hồ Ngạnh là ông Đốc Năm, một quan võ thời Tây Sơn và bà Nguyễn Thị Quyến (Tám Quyến), một phụ nữ giỏi võ. Thuở thiếu thời ông học võ với mẹ. Dáng người tầm thước, mảnh nhưng chắc, đôi mắt sáng, sóng mũi cao, bước đi nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, võ sư Hồ Ngạnh có vẻ thư sinh hơn là con nhà võ.
Những người thầy của võ sư Hồ Ngạnh là ông Đội Sê (có tài liệu ghi là Đội Sĩ, Đội Sẻ) dạy nội công, ông Hồ Khiêm dạy đoản côn, roi chiến. Có tài liệu chép người dạy võ cho Hồ Ngạnh là một Tạo sĩ (tiến sĩ võ) từng dạy roi cho lính hộ thành Huế, vì tham gia phong trào Cần Vương nên bị truy nã, nương nhờ nhà ông Đốc Năm nên sau có duyên truyền võ công cho Hồ Ngạnh, đặc biệt là roi.

Bản chất thông minh, lại có khiếu về võ thuật, đặc biệt là roi nên võ sư Hồ Ngạnh tiến bộ rất nhanh và như một thiên tài xuất chúng không có đối thủ một thời trên đất Bình Định. Chỉ tiếc một điều những đường roi và những bài thảo roi bí hiểm của võ sư Hồ Ngạnh không thấy ghi chép lại nhiều, có thể là bị thất truyền hoặc bí truyền trong những người học trò được chân truyền từ võ sư Hồ Ngạnh.
Có nhiều câu chuyện xung quanh võ sư Hồ Ngạnh như chuyên thử sức với đồng đảng Dư Đành; so tài ngoạn mục với danh sư Tàu Sáu Diệp Trường Phát, kết cuộc Hồ Ngạnh thắng Tàu Sáu về roi nhưng thua về quyền. Ông Tàu Sáu viết tặng Hồ Ngạnh câu: “Đoản côn Thuận Truyền duy hữu nhất”, còn ông Hồ Ngạnh viết tặng lại ông Tàu Sáu câu: “Thủ vũ An Thái ngã vô song”, nghĩa là đoản côn Thuận Truyền chỉ có một, tay quyền An Thái cũng không hai; hoặc chuyện nói về ông đã giết chết con trai mình bằng đường roi bí hiểm nhưng thực chất con ông mất vì bệnh…
Khi tuổi cao sức yếu, võ sư Hồ Ngạnh thiên về nghề làm thuốc nhiều hơn dạy võ và thường lui tới cửa Phật như giác ngộ sự bình yên qua cuộc đời nhiều oan khiên, sóng gió của mình. Võ sư Hồ Ngạnh từ giã cõi trần năm Bính Thìn 1976, hưởng thọ 86 tuổi. Một số học trò của ông đang kế nghiệp là võ sư Hồ Sừng, võ sư Hồ Sơn Kỳ…
Roi là thuật ngữ thường dùng để gọi cho côn như: Roi Thái sơn, Roi Tấn nhất, Roi ngũ môn… hoặc câu ví địa danh nổi tiếng “Roi Thuận Truyền, Quyền An Thái”. Roi chia làm hai loại là roi trường và roi đoản. Roi trường là roi dài gồm hai thứ là roi đấu (trường tiên) dài khoảng 3m và roi chiến (trung bình tiên) dài khoảng 1,5 m. Roi đấu dùng để đánh trên lưng ngựa, sau này roi trường được dùng để phân tài cao, thấp ở đấu trường. Roi chiến dùng để đánh dưới đất gọi là roi bộ chiến và đoản côn là roi ngắn.
Bài “Tam thao tùy hình pháp” của võ sư Hồ Ngạnh biến chuyển dị thường , mỗi câu mỗi đoạn có giá trị khác nhau. Về tầm sát phạt thì có yếu điểm giá trị chứa đựng trong mỗi câu của bài. Câu một: Chuyên trị các đường thương; câu hai: Chuyên phá các đường đao kiếm; câu ba: Đánh dụ địch vào thế hiểm; câu bốn: Đánh nơi cần đánh gấp; câu năm và sáu: Chuyên đánh ra vào nơi loạn quân.
Danh trấn giang hồ bằng những đường roi tuyệt kỹ hẳn võ sư Hồ Ngạnh phải là một con người bản lãnh khi cầm trên tay cây roi chiến Thuận Truyền Bình Định mà cho đến hôm nay lớp người sau cũng như giới trẻ hiện giờ khó mà hiểu tận ngọn nguồn, bởi xem những bài diễn “côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài” qua thực tế, thấy múa may quay cuồng nhiều hơn là “thế”, “miếng”, thấy thương pháp dùng lẫn lộn cho côn pháp, đao pháp thay cho kiếm pháp. Nên nếu đụng trận thực sự thì khó mà thủ thắng. “Ngàn năm gương cũ soi kim cổ” là như vậy.

28/06/2022

HÙM XÁM MIỀN TRUNG – LÃO VÕ SƯ HÀ TRỌNG SƠN
Trong làng võ Bình Định đương đại, võ sư Hà Trọng Sơn là một cây đại thụ danh bất hư truyền, là "kỳ nhân" mà không "dị sĩ". Tên ông được khắc vào danh bảng cao thủ bằng những lần thượng đài bách chiến bách thắng.
Mỗi lần nhắc đến những trận thượng đài đỉnh cao, giới võ thuật ở Bình Định liền nhớ ngay đến võ sư Hà Trọng Sơn, người được mệnh danh là Hùm xám miền Trung.
Võ sư huyền thoại Hà Trọng Sơn, sinh ngày 1.6.1920, tại làng võ Phước An, Tuy Phước, Bình Định, trong một gia đình “võ nòi”. Nhà của võ sư Hà Trọng Sơn ở thôn An Hòa 1, xã Phước An, Hhuyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

ĐÁNH BẠI VÕ SĨ TÂY
Võ sư Hà Trọng Sơn đam mê võ thuật từ nhỏ. Năm 8 tuổi, ông được những người anh trong họ hàng như Hà Cảnh, Hà Tùng, Hà Để dạy võ nghệ. Sau đó, ông theo học rất nhiều võ sư khác, trong đó có võ sư Lâm Đắc Đạo và ông Beo (người gốc Hoa, sống ở vùng An Khê, Gia Lai). Năm 17 tuổi, ông Sơn được một sĩ quan người Pháp là đồn trưởng đồn Mang Cá (ở Huế) dạy đấu quyền anh...
Năm 1943, tại Đại hội quyền thuật Đông Dương tổ chức ở Nha Trang, ông Hà Trọng Sơn đã giành chiến thắng trước võ sĩ nổi tiếng của Pháp là F.Nicolai và võ sĩ Tiết Mãnh, vốn là tay đấm lừng danh của Đông Dương lúc bấy giờ. Tháng 10.1944, tại hội thi võ thuật Đông Dương tổ chức tại Đà Nẵng, ông Sơn có trận đấu chung kết với một võ sĩ người Pháp là Esperpaire, một tay đấm bất bại cho đến thời điểm đó. Võ sĩ Esperpaire cao, to, nặng hơn ông Sơn rất nhiều nên khi vào trận đấu, nhiều võ sư người VN rất lo lắng. Sau khoảng 5 phút thăm dò, võ sĩ người Pháp ra đòn tấn công rất mạnh hòng hạ gục ông Sơn. Tuy nhiên, bằng sự linh hoạt, ông Sơn né tránh hết các đòn đánh của đối phương. Khi trận đấu được hơn 20 phút thì Hà Trọng Sơn bất ngờ tung đòn hiểm, Esperpaire dính đòn, đổ gục trên sàn đấu.

ĐẤU VỚI CÁC CAO THỦ MIỀN NAM
Võ sư Trần Can (86 tuổi, ở xã Phước An, H.Tuy Phước, Bình Định), học trò của võ sư Hà Trọng Sơn, kể: Năm 1948, võ sư Hà Trọng Sơn thủ đài tại Bình Định, lần lượt đánh bại các danh thủ hàng đầu như: Trịnh Thiếu Anh, Trung Anh, Bảo Trung Phong... Thời điểm này, ở miền Nam có 3 tay đấm rất nổi tiếng là Huỳnh Tiền, Minh Cảnh, Minh Sang thì võ sư Hà Trọng Sơn đã thượng đài thi đấu với 2 người là Huỳnh Tiền và Minh Cảnh.
Năm 1950, tại hội chợ ở Đà Nẵng, ông Sơn thách đấu với võ sư Huỳnh Tiền, người được mệnh danh “Đệ nhất anh hùng miền Đông” hay còn gọi là “cáo già miền Nam”. Tuy là cao thủ nhưng võ sư Huỳnh Tiền rất mê tín, mỗi khi lên đài, ông thường ngậm thẻ có hình ông Phật để phù hộ giành chiến thắng. Trận này, ông Sơn đã hạ đo ván võ sư Huỳnh Tiền. Từ đó, Hà Trọng Sơn được báo chí ca ngợi và mệnh danh là Hùm xám miền Trung. Sau này, võ sư Hà Trọng Sơn còn đấu với võ sư Huỳnh Tiền nhiều trận, thắng bại đều có nhưng hai người đã trở thành bạn thân.
Cũng trong giai đoạn này, võ sư Minh Cảnh là nhà vô địch Đông Dương về quyền thuật, được mệnh danh là Võ vương Minh Cảnh. Võ sư Hà Trọng Sơn và võ sư Minh Cảnh nhận lời thượng đài với nhau một lần tại Phan Rí (Bình Thuận). Lúc đó, ông Sơn cao gần 1,76 m, nặng 78 kg, còn ông Cảnh thấp hơn nhiều và chỉ có 54 kg nhưng hai bên vẫn nhận lời thi đấu. “Vào trận, thầy Minh Cảnh dùng đòn tay liên tục tấn công vào mặt thầy Sơn. Sau này, thầy Sơn có nói với tôi là đòn tay mặt của thầy Cảnh mạnh như búa bổ. Còn thầy Sơn cũng đánh trúng mặt thầy Cảnh hai lần. Tuy nhiên, trận đấu này phải hoãn giữa chừng do gặp mưa”, võ sư Trần Can nhớ lại.
Võ sư Hà Trọng Sơn còn đánh hòa với võ sĩ Kid Demsey, người giữ chức vô địch Đông Dương nhiều năm liền, đánh bại võ sĩ Ku Xam Thum (người Việt, gốc Thái Lan) vào năm 1960 tại Bồng Sơn (Bình Định)... “Trận thượng đài cuối cùng của cha tôi là với võ sư Phan Huệ (ở Hà Nội). Sau năm 1975, nghe danh cha tôi, võ sư Phan Huệ tìm đến thách đấu. Trận đấu diễn ra tại Trường hát Sùng Nhơn ở Quy Nhơn. Thượng đài chưa đầy một phút, võ sư Phan Huệ dính đòn của cha tôi nên xin thua. Trước trận đấu, ban tổ chức hứa là trả tiền thi đấu rất cao nhưng sau đó họ nuốt lời, không chịu trả và nói rằng: Đánh thắng nhanh như vậy thì lấy tiền làm gì!”, bà Phi kể.
Trong sách Võ cổ truyền Bình Định (xuất bản năm 2004), tác giả Lê Thì, nguyên Giám đốc Sở Thể dục - Thể thao Bình Định, cho rằng bài roi Ngũ Môn phá trận và bài Mai Hoa kiếm pháp là hai môn gia truyền của võ sư nổi tiếng Hà Trọng Sơn. Lúc sinh thời, võ sư Hà Trọng Sơn thường hạ đối thủ bằng các đòn như: thử trước đánh sau, đánh lật sườn, gióng trảo bấu vai lật đầu tháo khớp (đề khí thiết công phục lôi hổ giáng)...

VỀ VỚI ĐỜI THƯỜNG
Những năm chiến tranh loạn lạc, nhà ông bị trúng bom. Tai họa bất ngờ này đã vĩnh viễn cướp đi sinh mạng hai cụ thân sinh của ông. Tài sản mất trắng, ông còn duy nhất mỗi chiếc quần đùi; mấy chiếc cúp minh chứng tài võ nghệ bị nóng chảy biến dạng, ông đem bán đồng nát. Vợ con từ đó đành chịu chung cảnh gian truân.
Khi đã khắc đậm tên mình giữa làng võ, “hùm xám” sống một cuộc đời dung dị, thủy chung. Dịp mừng thọ “hùm xám” tròn thất thập, thân hữu đề tặng rằng:“Nghiệp võ lừng danh gió bụi không say tâm mãnh hổ/Tài hoa nổi tiếng thủy chung vẹn giữ đức hiền nhân”.
Không còn đủ sức để tung chiêu cùng cây đại đao; khẩu quyết về bài roi Thái Sơn, Mai Hoa Kiếm gắn liền danh tiếng “hùm xám”, ông cũng không thể nhớ nổi. Chí tang bồng đã thỏa, về với đời thường, ông thanh thản sống phần đời còn lại trong cuộc hành trình nhân thế đầy giông bão. Tôi mạn phép xin được xem những tấm ảnh thời trai trẻ của ông. Xua tay, ông nói không chút tiếc nuối: “Anh em, bạn bè xin làm kỷ niệm hết trọi rồi. Vả lại, hoạn nạn rồi cuộc đời đấm đá lang bạt đây đó, đâu có ảnh gì nhiều”. Đoạn chỉ tay lên vách tường, ông trầm ngâm: “… kẻ học võ bất ly cung kiếm, nhưng tui không thể nào cưỡng lại quy luật đời người, rửa tay gác kiếm lâu lắm rồi”.
Giờ đây, gánh nặng tuổi tác đã làm nhạt nhòa hào quang từng phủ sáng thời trai trẻ. Lưng bát cơm mỗi bữa, “hùm xám” quẩn quanh trong khu vườn được bao bọc bởi hàng chè tàu xanh ngát. Ngày lại ngày, ông “làm bạn” với chiếc ti vi đen trắng cũ kỹ; chiều chiều, chăm bẵm hai chậu sứ, một gốc mai và một khóm trúc nhỏ đặt trước hiên nhà. Bà Khuê, vợ ông cho biết: “Đó là tất cả thú tiêu dao của ông”!
Dấu tích tháng năm phủ đầy những binh khí của “hùm xám”. Lão võ sư dường như không màng gì đến những kỷ vật ấy. Khi câu chuyện đã mãn, ông còn cho biết: “Mấy hôm trước, cán bộ của Sở Văn hóa – Thông tin có về thăm tôi. Thật tiếc, tôi không còn đủ sức kể lại những gì mà họ muốn biết”.
Những người con của ông gồm: Hà Thị Trinh, Hà Thị Phi, Hà Văn Mao, Hà Văn Đằng, Hà Nhất Linh, Hà Thị Minh Nguyệt đều biết võ, từng tham gia thi đấu hoặc dạy võ. Tuy nhiên, hiện các con của võ sư Hà Trọng Sơn không còn theo nghiệp võ mà đi làm ăn xa.
Võ nghiệp của một võ sư đầu đàn sắp khép lại. Đi giữa hàng chè tàu xanh trong vườn nhà vị võ sư già trong khoảng không vắng lặng, đâu đó như vọng lại câu hát ru: Mặc ai khanh tướng công hầu/Qua (mình) cầu cho hết binh đao qua về/Qua về qua gỡ bùa mê/Trọn lời em bậu hẹn thề cháo rau…

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Hanoi?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address


36 Trần Phú, Điện Bàn, Ba Đình
Hanoi
100901