Sinh Trắc Dấu Vân Tay Vmit

Sinh Trắc Dấu Vân Tay Vmit

Share

Diễn đàn sinh trắc học dấu vân tay. Khám phá tiềm năng bản thân. Cải thiện chất lượng cuộc sống

Bị vỡ đầu nhưng không chết và bất ngờ trở thành thiên tài? Chuyện tưởng đùa hóa ra lại hoàn toàn có thực 15/07/2017

Bị vỡ đầu nhưng không chết và bất ngờ trở thành thiên tài? Chuyện tưởng đùa hóa ra lại hoàn toàn có thực Chỉ sau một chấn thương ở đầu, một người bình thường bỗng nhiên trở thành một con người hoàn toàn khác. Điều này được các nhà khoa học lý giải bằng một hội chứng kỳ lạ, mà người mắc phải có được khả năng tỏa sáng trên một lĩnh vực, nhưng phải trả một cái giá rất đắt.

Photos 30/06/2017

10 CHUYỆN NGƯỢC ĐỜI TRONG CÁCH DẠY TRẺ Ở VIỆT NAM

1. Dạy trẻ theo cách dạy… thú cưng

Chúng ta bắt con cá phải biết leo cây và con khỉ phải biết bơi dưới nước.

Con nhà người ta học được hoặc học giỏi cái gì thì mình cũng muốn, thậm chí bắt con mình làm được điều đó.

2. Phục vụ con một cách mù quáng

Truyền hình ngày 30 tết đăng chuyện một người cha lớn tuổi từ Nam Định lên Hà Nội làm thuê vất vả đến mức quên cả Tết để kiếm tiền nuôi con đang học… đại học.

Mà không phải cậu con trai đi làm tự nuôi mình chứ chưa nói tới chuyện nuôi cha.

Chuyện cha mẹ không chịu để cho con mình lớn là căn bệnh trầm kha của xã hội ta.

Nhiều cha mẹ coi việc phục vụ hay làm hộ con một cách mù quáng này là một niềm vui hay trách nhiệm hay đơn thuần là sự quan tâm hay bù đắp gì đó. Thật là sai lầm ngoài sức tưởng tượng.

Những đứa trẻ của chúng ta lớn lên hoặc là những cây tầm gửi và cây leo, hoặc là những chiếc ly thủy tinh có thể rơi và vỡ nát bất kỳ lúc nào.

3. Không để cho trẻ ra ngoài khi trời mưa hoặc rét

Các trường học và cha mẹ có một phản ứng gần như tự động là không cho học sinh ra ngoài khi thời tiết không thuận lợi và hủy các chuyến đi học tập dã ngoại của trẻ em.

Người Nhật Bản, trái lại, coi đây là cơ hội để rèn cho trẻ sự cứng cỏi và khả năng thích nghi. Thậm chí họ còn đưa trẻ đi học khi chúng ốm để chúng quên việc bị ốm đi và nhanh chóng hồi phục. Tất nhiên ốm nặng hay bệnh truyền nhiễm là ngoại lệ.

4. Nuôi con cho… béo

Nuôi con cho béo mới là khỏe mạnh là một trong những cách tiếp cận dinh dưỡng và giáo dục thể chất sai lầm nhất của các cha mẹ Việt Nam.

Trẻ em không cần béo hay thậm chí không được phép béo. Đó là nguyên tắc mà chúng ta vô tư vi phạm và dẫn tới việc chúng ta xâm phạm và xâm hại cuộc đời của tụi nhỏ.

Ở Pháp, người ta có thể tước quyền nuôi con (ở tuổi ấu thơ) của cha mẹ nếu họ để cho con mình thừa cân quá mức quy định. Rõ ràng họ muốn cảnh báo cho cha mẹ là thừa cân là một căn bệnh nghiêm trọng.

Trẻ con cần vận động hơn là cần ăn.

Vận động, tôi xin nhấn mạnh, mới là thứ cần nhất cho một đứa trẻ. Cả vận động về cơ bắp và vận động về não bộ.

“Trẻ con cần vận động hơn là cần ăn”

5. Học giỏi là tất cả

Học giỏi là tốt nhưng chỉ biết học hoặc chỉ biết học giỏi thôi thì… cực xấu.

Thật khó cho chúng ta tìm ra được các cô cậu học trò học giỏi mà chơi giỏi (nghệ thuật và thể thao) và năng động (về vận động và xã hội), chứ chưa nói tới biết làm… việc nhà.

Con chỉ cần học giỏi thôi, còn lại tất cả việc nhà là do cha mẹ hoặc người giúp việc làm là suy nghĩ kỳ quặc của cha mẹ Việt chúng ta.

Chúng ta đang đào tạo ra những con gà công nghiệp và những con robot và cả các chiến binh thi cử. Không hơn không kém.

6. Phê bình trước toàn trường

Là sự xâm phạm tới cả tính riêng tư của cá nhân và sự xúc phạm tới nhân phẩm của một con người.

Cha mẹ, giáo viên và nhà trường phán xét về một đứa trẻ và dạy cho nó phán xét nhau.

Tôi cực lực phản đối việc này vì sự thiếu nhân văn của nó.

7. Không biết dùng nhà vệ sinh

Nghe thì có vẻ buồn cười đó, nhưng cả học sinh và trẻ nhỏ và cả người lớn Việt Nam chúng ta không biết sử dụng… nhà vệ sinh đúng cách.

Không biết xếp hàng khi đi vệ sinh công cộng.

Không giữ vệ sinh chung (xả nước và lật nắp ngồi khi đi tiểu – với học sinh nam…).

Nhiều bé gái và học sinh nữ khi vào nhà vệ sinh không chốt cửa và bật đèn.

Rửa tay làm vung vãi nước…

8. Giỏi Toán là có tư duy sáng tạo

Toán học dĩ nhiên là quan trọng và tất cả mọi con người đều phải học và nắm chắc những điều căn bản của nó, nhưng việc cho rằng trẻ con phải học Toán giỏi làm nền móng cho các môn học khác và giúp cho trẻ con trở nên sáng tạo là rất ngây thơ và ngây ngô.

Sáng tạo và tư duy của nó có thể đạt được qua bất kỳ hoạt động nào, từ học thuật cho tới vận động và nghệ thuật. Thậm chí là hoạt động xã hội.

Toán học là thơ ca của tư duy (lời của Albert Einstein), tức là nó rất đẹp. Học toán chỉ cần thấy nó đẹp là được rồi, bất kể đẹp theo cách nào. Không cần phải giải toán giỏi làm gì.

9. Học giỏi là để ấm thân mình

Đó là sự ích kỷ tai hại mà chúng ta tạo ra cho các thế hệ con cái của mình qua bao năm qua. Chúng ta khuyến khích đứa con của mình trở thành một cái cây đơn lẻ vươn lên tìm ánh nắng chỉ cho mình.

Tinh thần và ý thức cộng đồng của chúng ta vì thế mà là con số KHÔNG. Tranh giành nhau đường đi hay khoảng trống trên đường giao thông, hay tranh cướp nhau trong các lễ hội là những biểu hiện sinh động cho điều này.

10. Con cái là trang sức của cha mẹ

Làm con ngoan trò giỏi (khái niệm đã trở nên lỗi thời về cả định nghĩa, cách tiếp cận và thực hành) mang một sứ mệnh cao cả là làm đẹp mặt cha mẹ.

Cha mẹ suy nghĩ như vậy và lấy quyền làm cha mẹ của mình yêu cầu các con phải làm điều đó. Biết bao đứa con đáng thương bị cha mẹ bắt tham gia vào các cuộc đua làm thiên tài từ bé và trong suốt quá trình học phổ thông của mình.

Thành tích, giải thưởng mà trẻ đạt được qua các cuộc đua đường trường và đường dài có một vai trò rất lớn là làm cho cha mẹ thấy tự hào và để khoe, như là một thứ trang sức chính hiệu…”.

Góc nhìn của anh Nguyễn Tuấn Hải được nhiều người hưởng ứng.

Nối dài danh sách này, chị Nguyễn Hương có ý kiến phản đối quan niệm “nét chữ là nết người”. Theo chị Hương, “Việc bắt trẻ con nắn nót từng điểm đặt bút rồi nét này nọ không làm nó lớn lên nhân cách tốt hơn những đứa chữ không đẹp”.

Một facebooker là Co Jane đưa ra một vấn đề nan giải nữa là học văn mẫu. Theo chị, đây là cách học vừa làm thui chột khả năng sáng tạo, tính cá nhân hóa, sự đa dạng trong ý tưởng, óc phản biện.

“Tai hại hơn là khi trưởng thành nếu cá nhân đó vẫn tiếp tục đi học đi làm trong môi trường với hệ tư tưởng ‘xuyên suốt’ đó thì họ sẽ không dám bày tỏ chính kiến, sự bất bình với những điều bất hợp lý”.

Còn chị Bùi Vũ Quỳnh Anh cho rằng “Yêu cầu con trẻ nhận sai trong khi bản thân lại kiệm lời xin lỗi (hay làm một đằng, dạy một nẻo)” cũng là một vấn đề cần cảnh báo.

“Việc này diễn ra trong cuộc sống hàng ngày như bố mẹ nói xấu cô giáo nhưng lại “đi tiền” cô. Lớp học dự giờ “đột xuất” nhưng lại được tập dượt trước. Dạy con phải thương người nhưng cư xử tồi với người khác…”…

Tuy nhiên, cũng có nhiều phụ huynh cho rằng, đó là những “phác thảo” về các khía cạnh cực đoan – và tác giả có cách sử dụng từ ngữ “mạnh”. Trong thực tế, vấn đề nào cũng có hai mặt. Phụ huynh tỉnh táo và điềm tĩnh sẽ biết cách lựa chọn những gì phù hợp nhất với con em mình.

Theo: Phương Chi

Nguồn Vietnamnet

Photos from Sinh Trắc Dấu Vân Tay Vmit's post 30/06/2017

TẠI SAO NHỮNG NGƯỜI CÓ IQ CAO THƯỜNG RƠI VÀO VÒNG LAO LÝ?

Tác giả James Oleson đã nghiên cứu 465 tội phạm với chỉ số IQ trên 149 và thấy rằng tỉ lệ phạm tội của người thông minh cao hơn hẳn so với những người có chỉ số IQ bình thường.

Một cuốn sách mới xuất bản của James Oleson, một nhà tội phạm học tại đại học Auckland, cho thấy những thiên tài thực sự có thiên hướng đụng độ với luật pháp.

Trong cuốn sách “Criminal Genius: A Portrait of High-IQ Offenders”, Oleson đã khảo sát hồ sơ tội phạm của 465 người trưởng thành trên khắp thế giới có IQ trung bình là 149, và so sánh tỉ lệ phạm tội của họ với một nhóm những người có chỉ số IQ bình thường. Các mẫu thống kê được lấy từ một hiệp hội gồm các thành viên với chỉ số IQ cao, từ các trường đại học nổi tiếng và một nhóm nhỏ các tù nhân có IQ cao.

Nhiều giả thuyết về trí thông minh cho rằng những người có IQ thấp là nhóm người dễ dính dáng đến pháp luật nhất, vì sự hung hăng, học hành kém, thiếu tương tác xã hội, và thiếu tầm nhìn đều liên quan mật thiết với tính chất tội phạm.

Trái lại, những người thông minh thường được coi là ít phạm tội hơn, và quan niệm này đã được nhiều nghiên cứu củng cố thêm qua hàng thập niên. Nhưng có thể có một ngưỡng IQ nào đó mà khi vượt qua, người có IQ cao sẽ trở thành một nhân tố cực kỳ nguy hiểm.

Thật vậy, nhóm IQ cao của Oleson có tỉ lệ phạm tội cao hơn so với nhóm đối sánh, với 50 trong số 72 loại tội phạm được khảo sát, gồm cả những tội nhẹ như xâm phạm tài sản và quyền tác giả, cùng các tội nặng như phóng hỏa, lừa đảo và bắt cóc. Những kẻ có IQ cao này cũng có khả năng thoát tội cao hơn, với số lượng bị kết án ít hơn hẳn.

Khi Oleson phỏng vấn trực tiếp một số người, ông nhận được nhiều câu trả lời rằng họ không bị trừng trị với nhiều tội ác do mình gây ra. Một đối tượng nói rằng mình đã từng cướp có vũ trang, và một đối tượng khác nhận trách nhiệm cho hàng tá vụ giết người chưa tìm được hung thủ.

Vậy tại sao những người thông minh lại dễ bị cuốn vào vòng xoáy tội phạm đến thế?

Rất nhiều người trong nghiên cứu của Oleson nói về sự xa lánh mà họ phải chịu vì trí thông minh của mình. Những đánh giá sai lầm của xã hội có thể là một nguyên nhân cho hiện tượng này. Một số nghiên cứu cho thấy những thiên tài thường bị cô lập, bắt nạt và gặp khó khăn nhiều hơn trong việc tạo ra các mối quan hệ, tất cả đều là những nhân tố tiềm tàng dẫn đến hành vi tội phạm.

Một lý do khác có thể là những người cực kỳ thông minh cảm thấy ít bị ràng buộc hơn bởi những quy ước và chuẩn mực truyền thống. Trong suốt các cuộc phỏng vấn thực hiện sau đó, Oleson đã nói chuyện với những đối tượng IQ cao cho rằng việc tuân thủ những quy định và hành vi chuẩn mực là khá quan trọng với người thường, nhưng không phải với họ. Và nhiều người trong số họ nói rằng họ cảm thấy sự đánh giá đúng sai của mình là “chính đáng, đôi khi còn xuất sắc và vượt trội hơn so với sự tuân thủ những lề thói và quy định xã hội thông thường”.

Theo Oleson, các kết quả trình bày trong cuốn sách của ông vẫn còn sơ khai chứ chưa phải là cuối cùng, đặc biệt là khi xét thấy các đối tượng tham gia nghiên cứu quả thực không nhiều. Một vấn đề nữa là những đối tượng trong nghiên cứu của Oleson được tập hợp từ một tổ chức chuyên biệt gồm những người có IQ cao, và những người tham gia các tổ chức như thế này có thể không đại diện được cho toàn bộ những người thông minh nói chung.

Mặc dù còn nhiều thiếu sót, nhưng cuốn sách của Oleson là nghiên cứu đầu tiên về tội phạm có IQ cao, và có nhiều lợi ích cho luật hình sự và chính sách công.

“Điều này không chỉ có nghĩa là những người giỏi cũng biết nói dối, gian lận và ăn cắp như bất kỳ ai, mà còn cho thấy các nhà tù chủ yếu chỉ giam giữ những kẻ thiếu may mắn và chẳng may bị bắt mà thôi”, Oleson cho biết.

Nguồn Cafebiz

Photos 30/06/2017

MỐI QUAN HỆ GIỮA DẤU VẤN TAY VÀ NÃO BỘ

Dấu vân tay và Não bộ con người có mối quan hệ như thế nào?

Cấu tạo của não bộ là sự liên kết giữa các nơ trôn thần kinh. Số lượng của các nơ trôn thần kinh trên não là bẩm sinh và nó được hình thành trong giai đoạn từ tuần 13 cho đến tuần thứ 19 của thai kì.

Sự phân bổ số lượng tế bào nơ trôn thần kinh này trên 5 trung khu thần kinh não là bẩm sinh và chúng được phân bổ không đồng đều.

Các nhà bác học cho rằng dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hệ thống gen di truyền mà thai nhi được thừa hưởng và tác động của môi trường thông qua hệ thống mạch máu và hệ thống thần kinh nằm giữa hạ bì và biểu bì. Một vài trong số các tác động đó là sự cung cấp ôxy, sự hình thành các dây thần kinh, sự phân bố các tuyến mồ hôi, sự phát triển của các biểu mô…Điều thú vị là mặc dù có chung một hệ thống gen di truyền nhưng vân tay ở mười đầu ngón tay của mỗi cá nhân khác nhau. Năm 1868 nhà bác học Roberts chỉ ra rằng mỗi ngón tay có một môi trường phát triển vi mô khác nhau; ngoài ra ngón tay cái và ngón tay trỏ còn phải chịu thêm một vài tác động môi trường riêng. Vì vậy, vân tay trên mười đầu ngón tay của một cá nhân khác nhau.

Hai anh em (chị em) song sinh cùng trứng có dấu vân tay khá là giống nhau nhưng vẫn có thể phân biệt được rõ dấu vân tay của từng người. Đó là vì tuy có cùng hệ thống gen di truyền và chia sẻ chung môi trường phát triển trong bụng mẹ nhưng do họ có vị trí khác nhau trong dạ con nên môi trường vi mô của họ khác nhau và do đó có dấu vân tay khác nhau.

Cuối thế kỉ 19 năm 1880, Tiến sĩ Henry Faulds đã chứng minh được rằng có thể dự đoán tương đối chính xác tổng số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count) và mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của mỗi người. Vì vậy có thể coi TRC là một biểu hiện phụ trợ của hệ thống gen mà con người được thừa kế. Thông qua vân tay, chúng ta có thể biết được sự phân bổ các nơ trôn thần kinh tại mỗi vị trí thùy não bằng việc phân tích TRC

TRC phản ánh gần đúng sự đóng góp của từng gen riêng biệt trong hệ thống gen vào việc hình thành một con người cụ thể. Thật vậy, dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hai yếu tố hệ thống gen và môi trường nên nó phản ánh được quá trình hình thành và phát triển của thai nhi

Năm 1926 Tiến sĩ Harold Cummins được xem là cha đẻ của ngành nghiên cứu khoa học dấu vân tay. Ông nghiên cứu ra rằng dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi và được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ.

Trước đó,một bác sĩ người Mỹ đã phát hiện ra một trường hợp kỳ lạ ở một trẻ mới sinh,đứa bé này không hề có bộ não. Người ta cũng đã phát hiện ra một điều dấu vân tay có liên hệ mật thiết với bộ não, bởi vì cả hai cùng không tìm thấy trong thời điểm này.

Các trường hợp tương tự như vậy xuất hiện với tần số ngày càng nhiều khiến các chuyên gia không thể phủ nhận một điều rằng: Não người và dấu vân tay đi liền với nhau. Ngành khoa học thần kinh đã nhấn mạnh rằng dấu vân tay và bộ não cùng phát triển đồng bộ với nhau.Thí dụ,ta có thể biết một đứa trẻ mắc hội chứng Down thông qua dấu vân tay rất khác biệt so với những đứa trẻ bình thường.

Giáo sư khoa thần kinh học người Canada Penfield đã công bố một biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các vùng não và chức năng của cơ thể. Trong đó, mối quan hệ giữa dấu vân tay và não cũng đã được chỉ ra.

Chuyên gia y khoa Nhật Bản cũng đã chứng minh được rằng các ngón tay liên quan chặt chẽ đến bán cầu não.Phát minh này đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực,tạo ra một bước tiến vượt trội trong y khoa.

Vì thế, để tìm hiểu tại sao một người lại hành động như thế này còn người kia hành động theo cách khác, một người có năng khiếu về lĩnh vực này nhưng người khác lại không, thì chỉ có một con đường duy nhất là nghiên cứu họ thông qua dấu ấn rất riêng được thể hiện bằng các đường vân trên ngón tay

30/06/2017

24 DẤU HIỆU CHO THẤY BẠN LÀ NGƯỜI HƯỚNG NỘI CHỨ KHÔNG PHẢI NHÚT NHÁT

Nhiều người nhầm lẫn rằng nội tâm hay nhút nhát đều giống nhau, nhưng thực tế điều này hoàn toàn sai. Đúng là người sống hướng nội có thể nhút nhát nhưng nếu dùng từ này để miêu tả họ là thiếu chính xác, bởi người hướng nội là những người rất mạnh mẽ khi ở một mình và chỉ trở nên yếu đuối khi có đám đông vây quanh.

1. Thích những cuộc trò chuyện có ý nghĩa hơn là trò chuyện xã giao
2. Không giỏi nói chuyện qua điện thoại
3. Cân nhắc trước khi hồi âm tin nhắn
4. Thích không gian riêng tư hơn là đám đông
5. Giao thiệp có chọn lọc
6. Thích đi chơi với một nhóm ít người
7. Cực kỳ giỏi quan sát và lưu tâm đến mọi thứ xung quanh
8. Giúp người khác mở lòng
9. Là người sáng tạo
10. Coi trọng việc tập trung lắng nghe
11. Tự xem xét, đánh giá các vấn đề của bản thân
12. Suy nghĩ trước khi tranh luận
13. Thường bị cho là đang "thả thính" tất cả mọi người
14. Thích ở một mình
15. Hiếm khi cảm thấy buồn tẻ
16. Không đặt niềm tin một cách dễ dàng
17. Có một nhóm nhỏ những người bạn thân thiết
18. Quyết liệt bảo vệ không gian cá nhân
19. Cảm thấy thoải mái bày tỏ bản thân qua việc viết lách
20. Luôn hoàn tất công việc
21. Là người có khả năng hiểu rõ bản chất của con người
22. Giỏi đưa ra quyết định
23. Trông bề ngoài có vẻ bí ẩn
24. Là một người bạn trung thành
-ST-

GIẤY CHỨNG NHẬN 29/06/2017
HÌNH ẢNH NHÂN VẬT NỔI TIẾNG 29/06/2017
29/06/2017

🎁 🎁GIÁ TRỊ NHẬN ĐƯỢC TRONG BÀI BÁO CÁO PHÂN TÍCH🎁🎁

👫ĐỐI VỚI TRẺ EM, HỌC SINH, SINH VIÊN:
✅Biết rõ tính cách, hành vi, suy nghĩ của con trẻ qua đó xây dựng sự tự tin, tính tựu lập cho con.
✅Tư vấn cải thiện các bất đồng quan điểm giữa cha mẹ và con cái, cách tương tác giữa cha mẹ và con cái.
✅Giúp khám phá các năng khiếu bẩm sinh, điểm mạnh và điểm yếu của con em bạn.
✅Nhận biết được các đặc tính hấp thụ việc học (VAK) của trẻ từ đó xác định được phương pháp dạy và học phù hợp.
✅Đánh giá các chỉ số EQ, IQ, CQ, AQ.
✅Đánh giá các chỉ số bẩm sinh thông qua việc phân tích hai bán cầu não, 10 chức năng trên não bộ.
✅Thiết lập các chương trình học tập cần thiết nhằm giảm thiểu các chi phí cho việc đầu tư vào các khóa học không cần thiết.
✅Định hướng nghề nghiệp phù hợp với sở trường, năng khiếu bẩm sinh của trẻ.

👥ĐỐI VỚI CÁ NHÂN:
✔️Khám phá chính bản thân bằng cách khám phá các năng lực cốt lõi của bạn.
✔️Giúp bạn định hướng nghề nghiệp phù hợp với tài năng bẩm sinh.
✔️Khơi dậy niềm đam mê của bạn trong công việc để đạt được mục tiêu thành công.
✔️Tư vấn phát triển phong cách cá nhân để trở thành một người chuyên nghiệp trong công việc và cuộc sống.
✔️Hiểu rõ và làm giàu giá trị cuộc sống bản thân.

👨‍👩‍👧‍👦ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH:
♥️Cha mẹ thấu hiểu các đặc điểm tính cách, năng khiếu bẩm sinh, điểm mạnh và điểm yếu của con em bạn, từ đó định hướng trẻ phát huy tối đa tiềm năng.
♥️Tư vấn cải thiện các bất đồng quan điểm giữa cho mẹ và con trẻ.
♥️Thấu hiểu lẫn nhau - nâng cao giá trị gia đình.

🏤ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP:
🖋️Giúp doanh nghiệp sàng lọc tuyển dụng, đánh giá năng lực thực hiện công việc và phong cách của ứng viên.
🖋️Khám phá tiềm năng của nhân viên nhằm bố trí người đúng vị trí.
🖋️Phát huy tiềm năng của nhân viên tạo đột phá cho doanh nghiệp.
🖋️Tìm ra các lãnh đạo tài ba.
🖋️Tư vấn đào tạo và phát triển nhân sự.

‼️‼️ĐĂNG KÝ THÔNG TIN CỦA BẠN ĐỂ ĐƯỢC XÁC ĐỊNH CHỦNG VÂN TAY, DEMO TÍNH CÁCH MIỄN PHÍ‼️‼️
📧 INBOX: Tên, số điện thoại, địa chỉ.
☎️ HOTLINE: 01668257628

VMIT Vietnam
Lầu 3, Khu A, Tòa nhà Waseco, 10 Phổ Quang, Phường 2, Quận Tân Bình, TP.HCM.

Photos from Sinh Trắc Dấu Vân Tay Vmit's post 29/06/2017

4 CHỈ SỐ THÔNG MINH TRONG BÀI BÁO CÁO PHÂN TÍCH.

Chỉ số thông minh ( IQ )
Chỉ số thông minh IQ (Intelligence Quotient), là một khái niệm được nhà khoa học người Anh Francis Galton đưa ra trong cuốn sách Hereditary Genius xuất bản vào cuối thế kỷ 19. Sau đó, nó được học trò của ông là J.Cattell và nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet phát triển bằng việc thảo ra những bài trắc nghiệm để kiểm tra năng lực trí tuệ của trẻ khi đi học. Binet nhận thấy rằng có mối liên hệ giữa khả năng học của một học sinh với kết quả bài trắc nghiệm của ông. Sau đó không lâu, nhà tâm lý học người Mỹ Giáo sư Lewis Terman (Giảng viên trường đại học Standford) đã phát triển bài trắc nghiệm gồm những câu phức tạp hơn để dùng cho người trưởng thành và đặt tên là bài trắc nghiệm chỉ số thông minh Stanford-Binet; nó nhanh chóng trở nên thông dụng trên khắp nước Mỹ, bùng phát mạnh vào năm 1917 khi nước Mỹ bước vào chiến tranh thế giới thứ nhất.

Trí thông minh (Intelligence) được dùng hệ số IQ (Intelligence Quotient), đo lường khả năng trí lực, năng lực học hỏi, khả năng hiểu và xử lý tình huống, năng lực suy nghĩ logic, phản biện, sự nhạy bén trong suy nghĩ… Trí thông minh có thể được đo tổng quát trong mọi lĩnh vực, và được đo theo từng lĩnh vực cụ thể.

Chỉ số IQ thường được cho là có liên quan đến sự thành công trong học tập, trong công việc, trong xã hội, những nghiên cứu gần đây cho thấy có sự liên quan giữa IQ và sức khỏe, tuổi thọ (những người thông minh thường có nhiều kiến thức hơn trong việc chăm sóc bản thân) và cả số lượng từ mà người đó sử dụng.

Chỉ số IQ trung bình của con người tăng lên một cách rất chậm. Trung bình chỉ số IQ trong một đời người hầu như không tăng hay giảm. Nhưng chúng ta vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn những sự thay đổi đó thể hiện chính xác sự thông minh dần thêm của con người.

Tuy nhiên càng ngày, người ta càng cho rằng các chỉ số thông minh khác quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói: “Với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất.

Chỉ số thông minh cảm xúc ( EQ )
Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Chỉ số thông minh cảm xúc EQ (Emotional Intelligence, hoặc Emotional Quotient). EQ đo lường năng lực, khả năng hay kỹ năng của một người trong cảm nhận, đánh giá, và quản lý cảm xúc của bản thân, của người khác hay của một nhóm người.

Trong một thời gian dài người ta dùng chỉ số IQ để tìm kiếm người tài vì tin rằng người có IQ cao sẽ có xác suất thành công cao hơn người khác. Tuy vậy một số nghiên cứu khoa học lại cho thấy chỉ 25% số người thành công là có chỉ số IQ cao hơn trung bình. Nghĩa là chỉ số IQ không giải thích được sự thành công vượt trội của 75% số người còn lại. Kết quả nghiên cứu đã loại yếu tố về năng lực chuyên môn. Cuối cùng những người nghiên cứu khẳng định rằng chỉ số EQ mới là yếu tố quyết định sự thành công trong cuộc sống và công việc của mỗi chúng ta.

Năng lực cảm xúc trong môi trường làm việc ? Trong khi chỉ số thông minh ít khi thay đổi theo thời gian, thì chỉ số thông minh cảm xúc có thể được “học” và thay đổi vào bất cứ giai đoạn hay môi trường nào. Để thành công trong môi trường làm việc, ông Daniel Goleman – người được xem là nhà nghiên cứu hàng đầu về EQ hiện nay đã đề xuất chúng ta phải có những năng lực xúc cảm cá nhân gồm: năng lực tự nhận biết bản thân, năng lực tự điều chỉnh, năng lực tạo động lực; và những năng lực thông minh xúc cảm xã hội gồm: năng lực thấu cảm với người khác và năng lực giao tiếp xã hội..

Năng lực tự nhận biết cảm xúc bản thân giúp chúng ta hiểu rõ cảm xúc hiện tại của mình và giúp chúng ta nhận biết vai trò quan trọng của cảm xúc đối với kết quả công việc của mình. Biết tự đánh giá bản thân còn giúp chúng ta hiểu điểm mạnh, điểm yếu của mình, giúp chúng ta can đảm thể hiện những suy nghĩ chưa được chấp nhận, và dám một mình theo đuổi cái đúng. Trong khi đó, năng lực tự điều chỉnh giúp chúng ta kềm giữ mọi cảm xúc bốc đồng của bản thân, giữ được sự bình tĩnh, lạc quan ngay cả trong những thử thách khó khăn nhất.

Đối với những người có năng lực tạo động lực, họ thường xem kết quả của công việc là thước đo cuối cùng cho sự thành bại. Chính vì thế họ luôn cố gắng phát triển bản thân và mong muốn vượt qua hay ít nhất đạt được những tiêu chuẩn hoàn hảo. Những cá nhân này luôn tìm thấy mục tiêu của bản thân trong mục tiêu của tập thể. Họ luôn chú ý đến giá trị, mục tiêu của tổ chức trước khi ra quyết định.

Bên cạnh một số năng lực kể trên, có những người còn có khả năng thấu cảm người khác. Họ có thể cảm nhận, dự đoán được cảm xúc và hoàn cảnh của người khác, có khả năng bày tỏ sự quan tâm của mình một cách chủ động đối với người khác. Hoặc cũng có người có năng lực phát triển người khác. Họ có năng lực cảm nhận được nhu cầu phát triển bản thân của người khác, sẵn sàng kèm cặp, hỗ trợ cho những người đó phát triển.

Nói đến năng lực giao tiếp xã hội của một người, chúng ta có thể kể đến năng lực truyền đạt thông tin, năng lực quản lý xung đột, năng lực lãnh đạo hay năng lực tạo sự thay đổi, năng lực hợp tác với người khác…

Người có năng lực quản lý sự xung đột có khả năng “xử lý” những tình huống căng thẳng một cách êm đẹp. Họ có khả năng thương thuyết và giải quyết những mối bất hòa, đưa ra giải pháp để hai bên cùng thắng. Trong khi đó người có năng lực lãnh đạo sẽ tạo cảm hứng cho mọi người làm việc, làm cho họ tin và hướng theo một tầm nhìn, một mục tiêu chung. Dù ở vị trí nào họ cũng sẵn sàng tiến lên để nhận lãnh trách nhiệm, họ tạo ảnh hưởng lên người khác bằng chính những hành động của mình. Còn người có năng lực hợp tác luôn tạo ra một môi trường làm việc vì mục đích chung, trong đó mọi người đều có cơ hội để phát triển.

EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai.

Khác với IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm, đo bằng con số cụ thể, EQ chưa có được một công thức tính toán riêng, vì trí thông minh xúc cảm là một phẩm chất phức tạp, biểu hiện qua những cái khó thấy như sự tự ý thức, sự thấu cảm, tính kiên trì, lạc quan, tính quyết tâm và khả năng hoạt động xã hội.

Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất.

Chỉ số vượt khó – AQ

Năm 1997, nhà tâm lý học người Mỹ Paul Stoltz lần đầu tiên đưa ra 1 khái niệm mới: AQ (Adversity Quotient) trong cuốn sách “Adversity Quotient: Turning Obstacles into Opportunities” (AQ: Xoay chuyển trở ngại thành cơ hội). Trong đó, ông định nghĩa, AQ là đại lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một người trước các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn. Tại sao một số người trở nên xuất chúng, rất thành công, trong khi những người khác lại nản lòng, thất bại cho dù họ có thừa thông minh hoặc tư cách tốt? Điểm khác nhau giữa họ chính là sự chênh lệch về AQ – khả năng đương đầu và đương đầu có hiệu quả trước bất hạnh và nghịch cảnh.

Nhiều nhà tâm lý đã ủng hộ rất nhiệt tình cho thuyết AQ này. Điều này góp phần khẳng định, việc lượng hóa những phẩm chất tâm lý bậc cao là một điều có thể làm được như đã từng làm với trí tuệ (IQ) và cảm xúc (EQ).

Paul Sloltz cho rằng, những người có AQ thấp thường dễ xúc động và dễ buông xuôi trước nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong khi, những người có AQ cao sẽ ít khi đầu hàng và dễ dàng trở thành lãnh đạo trong tương lai.

Ông phân định ra 3 dạng người dựa trên cách thức họ đối diện với những khó khăn, thử thách trong cuộc đời. Đó là: Quitter, Camper và Climber.

1. Quitter: Là những người dễ buông xuôi. Họ dễ dàng nản chí, dễ dàng từ bỏ việc theo đuổi 1 công việc, 1 dự định và cao hơn là 1 mục đích sống. Và, kết quả là thường giữa đường đứt gánh, và nhận thất bại, hoặc kết quả không như ý.

2. Camper: Là những người chịu khó, làm việc chăm chỉ, có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân, và sẽ làm nhiều thứ để đạt tới 1 mức độ nhất định nào đó trong cuộc sống. Tuy nhiên, họ dễ hài lòng và thoả hiệp với bản thân để thấy như vậy là đủ.

3. Climber: Là những người có sự kiên định và hoài bão lớn. Họ luôn học hỏi, rèn luyện bản thân, nỗ lực cố gắng để đạt tới những mức độ tốt nhất có thể trong khả năng. Họ cũng thường là tuýp người không chấp nhận 1 tình thế sẵn có, và tìm cách xoay sở để cải thiện nó tốt hơn.

Theo đó, ông coi chỉ số đo khả năng vượt qua những điều kiện khó khăn là yếu tố lớn nhất trong những phẩm chất tạo nên sự thành công cho con người.

Theo Paul Sloltz, chỉ số AQ có thể đo mức độ hoài bão, nỗ lực, sự sáng tạo, năng lượng, sức khoẻ lý tính, xúc cảm và hạnh phúc của một người. Nó cũng chính là một chỉ báo về 4 mức độ cao thấp của bản lĩnh sống:

1. Đối diện khó khăn
2. Xoay chuyển cục diện
3. Vượt lên nghịch cảnh
4. Tìm được lối ra

Theo quan niệm của nhiều người, IQ và EQ là những khái niệm “fix”, có nghĩa là phần nhiều thuộc về “thiên phú”, khó có khả năng thay đổi. Trong khi đó, AQ là đại lượng có thể được rèn luyện để “cải thiện, nâng cấp”.

Chỉ số thông minh sáng tạo – CQ?

Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo (Creative Intelligence – CQ). Xét cho cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại.

Nhà tâm lý học người Anh Harry Adler lần đầu tiên đưa ra khái niệm này. Ông nghiên cứu vùng khu trú của những suy nghĩ sáng tạo và định nghĩa một cách đơn giản: “Khả năng sáng tạo là cái loé sáng vỗ nhẹ vào vùng não phải để làm bật ra những ý tưởng”. Nói như vậy có nghĩa là tuy phần nào mang tính bẩm sinh, nhưng khả năng sáng tạo vốn có trong tư duy mỗi người và hoàn toàn có thể “rèn luyện” được. Adler đã chỉ ra rằng có thể nâng cao hiệu quả của não bộ bằng cách tập suy nghĩ, tìm ra những cái phi thường, cái “loé sáng” trong cái bình thường và đề xuất rất nhiều cách để tạo ra “cái vỗ nhẹ” đó. Cũng chính vì thế, mục tiêu giáo dục ở các nước tiên tiến là không chỉ cung cấp kiến thức đào tạo mà tạo ra những người biết suy nghĩ sáng tạo. Gần đây, người ta đã xây dựng cả một ngành khoa học mang tên ‘Tư duy sáng tạo” nhằm mục đích này.

Dù ở độ tuổi nào, mỗi người đều có tiềm năng để phát triển những năng lực trên. Đừng quá ỷ lại vào trí thông minh, trình độ chuyên môn mà nên tập trung nhiều hơn đến việc phát triển chỉ số EQ, phát triển năng lực cảm xúc của bản thân trong môi trường làm việc. Cũng như Chỉ số vượt khó (AQ), Chỉ số say mê (PQ), Thông minh xã hội (SQ), Chỉ số thông minh sáng tạo (CQ). Từ từ chúng ta sẽ nhận biết, quản lý bản thân tốt hơn, hiểu biết và giao tiếp với người khác hiệu quả hơn, và chắc chắn sẽ gặt hái nhiều thành công hơn trong công việc và cuộc sống !
-st-

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


Ho Chi Minh City