Hồi Ức Về Cha

Hồi Ức Về Cha

Share

đa ngành nghề

04/01/2026

HỒI ỨC VỀ CHA
CHƯƠNG 2 PHẦN 4 – Bóng Nắng Dài Trên Con Đường Cát
Ông và bố nói chuyện với nhau khá lâu về công việc sắp tới.
Về việc mưu sinh qua những ngày khốn khó.
Những câu nói chuyện về tương lai gần, rời rạc, nhưng câu nào cũng nặng lo toan.
Bố có tay nghề thợ may.
Ông nội bảo, đã có người quen giới thiệu, bố có thể lên thành phố làm việc. Nhưng chuyện ấy chưa chắc có ngay trong ngày một, ngày hai được, phải chờ.
Còn việc học của nó, bố nhờ ông xin cho nó nhập học ở đây, để nó không bị dở dang giữa chừng. Nó theo bố đi khi còn đang học dở dang học kỳ hai lớp bốn. Ông nói sẽ gặp hiệu trưởng trường ở đó khi kỳ nghỉ hè sắp kết thúc.
Trong lúc chờ đợi công việc của bố, ông bàn với bà Hai một cách làm tạm.
Bà Hai nấu chè, bố nó mang ra cửa rừng bán cho thợ rừng đi làm về.
Bố nghe, đồng ý ngay.
Không nói nhiều.
Ngay hôm ấy, bố nhờ bà nói chi tiết những gì cần chuẩn bị để sẵn sàng cho công việc.
Bố mua xô mới đựng chè, mua cốc nhựa và thìa mới; còn can đựng nước và thùng nước đá và các vật dụng khác thì tận dụng những cái có sẵn của ông bà. Cái xe đạp cũ của ông được bơm căng hơi, buộc thêm hai đoạn gỗ thẳng sau yên xe để có chỗ buộc cái xô chè…
Chuẩn bị mọi thứ xong xuôi hết, trời cũng xế chiều. Nó thấy bố ngồi sau luống mía, mắt nhìn xa xăm, khuôn mặt buồn. Có lẽ bố đang ngồi nghĩ về mẹ, chị và em nó, bây giờ ra sao.
Bố vẫn chưa biết gì về tương lai, mọi thứ vẫn còn mù mịt.
Bố nó đã viết thư gửi về ngay hôm vào đến nhà ông.
Đất nước những năm tháng còn nghèo và lác hậu, Thư cũng phải hơn một tuần mới nhận được, có khi còn bị thất lạc…
Sáng hôm sau, nồi chè to đã nấu xong với sự hướng dẫn của bà Hai.
Đó là nồi chè thập cẩm: đỗ xanh, đỗ đỏ, đường mía và vài loại nữa; có bột khoai, bột năng, làm cho nồi chè dẻo sánh. Mọi thứ đã chuẩn bị cho ngày đầu tiên.
Trưa hôm ấy, sau khi cả nhà ăn cơm xong, ông nội nghỉ trưa.
Bố không nghỉ. Bố tranh thủ chuẩn bị một vài thứ nữa.
Bố đội chiếc nón lá đã sờn vành. Vẫn cái áo sơ-mi cũ, màu đã nhạt, quần dài ống rộng và đôi giày cũ dính đầy bụi cát. Bước thấp bước cao, bố dắt chiếc xe đạp cũ của ông. Sau xe buộc một cái xô to đựng chè, vẫn còn ấm.
Tay lái treo cái xô nhựa đựng cốc và thìa.
Dưới xô chè, bên trái là cái làn hơn chục chai nước ngọt; bên phải là thùng đựng đá lạnh. Khung xe trước buộc can nước to.
Xe hàng cũng khá nặng đối với sức của bố.
Nó mặc quần đùi. Đầu đội cái mũ lưỡi trai cũ mượn của chú út.
Trước khi đi, ông và bà Hai trao đổi lại với bố về địa điểm và cách thức bán hàng.
Ông dặn nó đi đứng phải cẩn thận, đẩy xe phụ bố qua đường cát và dốc.
Bố con nó đẩy xe đi lúc trời còn nắng hầm hập.
Bố dắt xe ngang qua chòi lá. Có mấy thợ rừng vẫn đang ngồi ăn trong quán, những bữa trưa muộn của cuộc sống mưu sinh.
Bố giữ vững tay lái, chân thấp chân cao, tập tễnh dắt xe đi qua những láng cát trắng mịn, trơn trượt.
Nó đi phía sau.
Đẩy xe cho bố.
Hai bố con dắt bộ chiếc xe nặng trên con đường mòn nhỏ ngoằn ngoèo. Có đoạn cát trắng dày đến mức bánh xe vừa lăn là trượt, lún xuống. Bố cố gắng dắt xe phía trước. Nó hì hục đẩy phía sau. Mỗi lần xe lên dốc hay sa vào chỗ cát mềm, cả hai lại phải dồn sức, thở dốc vì nắng.
Mồ hôi ướt đẫm lưng áo
Nhà cửa thưa dần khi hai bố con đi vào đoạn đường mòn ngoằn ngoèo kế tiếp.
Nhà ởn đây đa số là mái lá vách đất, thi thoảng có nhà làm bằng vách gỗ lợp ngói,
Hai bên đường, cỏ mọc um tùm ngả phủ ra gần giữa đường,
Rễ cây mọc tràn lên mặt đường. Mùi nắng, mùi gió, mùi khói bên đường — tàn dư của những đám cháy người ta đốt rẫy, khai hoang. Gốc cây cháy đen trơ trọi.
Trời nắng chang chang. Thi thoảng có tiếng chim rừng gọi nhau, tiếng gà rừng gáy trưa, rồi trở lại sự im ắng đến lạ lùng. Chỉ có tiếng thở của bố và nó, hì hục đẩy xe qua những láng cát.
Nắng mùa này không gắt kiểu rực rỡ. Nó khô và dai, hai má và tay nó ửng đỏ nóng rát.
Đi qua con suối đã cạn nước, cát trắng nhiều, nổi lên ngập cả vành bánh xe, xe càng nặng thêm.
Nó phải cố hết sức mới giúp bố đẩy qua được con suối, vừa cát, vừa dốc.
Quãng đường từ nhà ra cửa rừng xa hơn nó tưởng.
Đi bộ cả giờ đồng hồ.
Lần đầu tiên nó thấy cái “xa” không nằm ở chỗ nhiều cây số, nhiều cát, nhiều dốc, mà nằm ở chỗ mỗi bước chân đều nặng dần cho khoảng tương lai mịt mù phía trước.
Cánh rừng cũng hiện ra trước mắt khi những cây cao cổ thụ đứng trong tầm mắt nó.
Những cây cổ thụ này không có giá trịnkhai thác nên còn được đứng đó, vươn tầm quan sát quang cảnh nơi cửa rừng, nơi từng tốp người xe nối đuôi nhau bán sức cho cuộc sống mưu sinh, và cả bố con nó
Điểm bán chè là một khoảng đất rộng ngay cửa rừng.
Cỏ mọc nhiều, nhưng nền đất khá bằng phẳng.
Xe thợ rừng thường dừng lại ở đây trước khi tỏa ra các lối mòn khác.
Gần tới nơi, trời bỗng dịu nắng vì có đám mây che, như thể rủ lòng thương cho bố con nó vậy.
Bố dựng xe, chống chân cẩn thận.
Rồi tháo xô chè xuống.
Nó giúp bố tháo dây, xếp đặt các thứ lên chỗ đất cao, khô ráo.
Bố cầm dao phát cỏ, chặt sát mặt đất. Nó cúi xuống nhặt những búi cỏ vừa phát, gom cả cành khô rễ cây bỏ ra xa
Một lúc sau, mặt bằng chỗ bán chè hiện ra rõ ràng.
Đất trống.
Tương đốí sạch sẽ
Bố trải cái bạt nhỏ ra. Bày cốc. Đặt vài chai nước giải khát. Xô chè và thùng đá để bên cạnh.
Đúng như ông và bà Hai nói, tầm xế chiều là thợ rừng ra tới cửa rừng.
Bố con nó vừa chuẩn bị xong thì những đoàn xe đầu tiên xuất hiện.
Bố nhanh miệng mời: Các bác dừng lại nghỉ chút cho mát, mơi ăn cốc chè đá giải khát đã ạ.
Giọng bố nhỏ. Nhẹ. Nhưng chân thành.
Các bác thợ rừng hồ hởi bảo nhau dừng xe. Người dựng chân chống, người chống xe vào gốc cây.
Đa phần là ăn chè đá.
Có người còn ăn hai cốc.
Thỉnh thoảng mới có người lấy chai nước ngọt có ga.
Bố và nó lần đầu tiên bán hàng. Lại là bán trong một không gian mà cả hai chưa từng nghĩ tới.
Nắng chiều cũng đã dịu, không còn gay gắt , nhưng lưng áo bố ướt đẫm mồ hôi. Trên trán, trên mặt, từng giọt mồ hôi rơi xuống.
Cái dáng người nhỏ, khuôn mặt tươi nhưng vương vấn một nỗi buồn man mác.
Nó luống cuống phụ bố: rửa cốc, tráng thìa, chuyền nước.
Tay chân vụng về, mồ hôi cũng tuôn ra.
Mỗi tốp thợ rừng là khoảng năm đến bảy xe.
Mỗi xe hai, ba người.
Xe là loại xe thồ gỗ, giống xe đạp nhưng được gia cố chắc chắn hơn rất nhiều.
Có xe thồ hai đoạn gỗ tròn to, dài chừng hai thước.
Có xe chất củi khô cắt ngắn, xếp cao quá đầu.có xe thì thồ mấy chục cây củi to bằng bấp chân, mà dài,có cả đàn ông và đàn bà, cũng có người trạc hơn nó vài tuổi, da đen thui, đội mũ vải, chân mang giày cao su, da sạm đen vì nắng, nói cười vui vẻ vì rừng, vì mưu sinh.
Ai nấy mồ hôi nhễ nhại.
Ngày đầu đi bán, bố con nó không mang theo nhiều.
Chỉ vài tốp thợ là hết chè.
Còn lại vài chai nước ngọt và ít đá.
Bố mở một chai. Vét hết số đá còn sót lại.
Rót ra hai cốc.
Bố một cốc.
Nó một cốc.
Cốc nước ấy giống như phần thưởng nhỏ cho một ngày vất vả.
Dọn hàng xong, buộc lại đồ đạc lên xe thì mặt trời gần tắt nắng.
Hai bố con lại dắt xe về.
Niềm vui nhỏ vì bán hết hàng.
Nhưng bố không nói gì.
Có lẽ trong đầu bố đã hiện ra những chặng đường còn dài và xa hơn thế.
Nó lẽo đẽo đi sau.
Nắng chiều sắp tắt, bóng bố và nó ngả mờ dài ven đường cát nhấp nhô.
Tiếng chim rừng gọi nhau đi kiếm ăn khi mặt trời sắp lặn nhường chỗ cho bóng tối.
Bố và nó lặng lẽ đi.
Chiếc xe đạp cũ trở về lăn chậm trên con đường mòn.
Cửa rừng ở lại phía sau.
Những cây cổ thụ vẫn đứng đó, như đang lặng lẽ nhìn theo dáng lưng thẫm ướt mồ hôi của hai bố con, những con người đang cố tìm kiếm những ngày êm đềm cho tương lai…

02/01/2026

HỒI ỨC VỀ CHA
CHƯƠNG 2- PHẦN 3, Đêm Dưới Mái Nhà Chưa Quen

Nó và bố nó đi theo ông vào nhà trong.
Nhà trong cách quán chòi lá mấy chục bước chân.
Bà hai ép nước mía, rót cho hai cốc đưa bố và nó, nó cảm ơn bà rồi uống, nước mía có đá mát lạnh, làm tan đi cái nóng hầm hập
Khi bố và nó vừa vác bao tiến gần đến nhà chính, chú út chạy từ sau nhà lên,
Chú đứng khựng lại một nhịp.
Nhìn ông trước, rồi nhìn bố và nó, ánh mắt dò xét, như tự mình phân biệt người quen kẻ lạ.
Chú hỏi ông nội,
ai vậy bố? ,
giọng ngắn và gọn.
Đến khi ông giới thiệu xong, nét mặt chú mới giãn ra.
Chú cười nhẹ, nụ cười thoáng qua nhưng thật,rồi lại trở về đúng là một đứa trẻ nhanh nhảu
Chú út năm nay chuẩn bị vào lớp Một. Người nhỏ thó, da ngăm đen vì nắng gió. Tay chân gầy nhưng rắn.
Mái tóc cắt gọn, chải lệch sang một bên, lộ rõ cái trán hơi dô.
Đôi mắt một mí, ánh nhìn ban đầu có vẻ lì và dè chừng, ít cười với người lạ. Nhưng nhìn kỹ thì thấy trong đó có sự lanh lợi và tò mò, ánh mắt của một đứa trẻ quen sống giữa người lớn và việc nhà.nói liến thoắng.
Chú út dắt nó ra sau nhà rửa tay.đi qua những luống mía,
Tay chú nhỏ nhưng cứng cáp, nắm lấy tay nó rất tự nhiên.
Vừa đi, chú vừa hỏi đủ thứ: từ đâu tới, đi xe gì, có mệt không, có ở lại lâu không. Những câu hỏi ngắn, dồn dập, vụn vặt, rất thật, rất trẻ con, của một đứa bé sống ở vùng đất còn lạ người, hiếm khách.
Nó và chú đi một vòng quanh khu nhà chính và vườn sau nhà.
Nhà chính là một căn nhà ba gian, mái tranh lợp lá, khung gỗ thô mộc.
Căn nhà được dựng từ bộ khung gỗ
Nhà nước cấp hồi những ngày đầu ông bà theo diện giãn dân vào vùng kinh tế mới ,thứ nhà ở tạm, nhưng là tất cả những gì người ta có thể bấu víu để bắt đầu lại.
Gian giữa có một chiếc tủ buýp-phê cũ. Trên tủ đặt bát hương, đèn dầuvà ảnh thờ cụ bà.
Bức ảnh thờ đen trắng ấy do chính ông nội nó vẽ bằng muội đèn dầu.
Ông vẽ sau khi ông bà nhờ người dựng xong căn nhà lá này, vẽ trong ánh đèn leo lét, để có một chỗ cho người đã khuất trở về.
Gian bên phải, ông kê một cái sập gỗ. Buổi trưa, ông thường nằm đó ngủ. Phía trước gian ấy là một bộ bàn dài, nơi cả nhà ngồi ăn cơm, những bữa trưa ăn nhanh, ăn vội để còn bán quán, những bữa ăn tối đủ mặt cả nhà
Gian bên trái là buồng ngủ của bà Hai và chú út.
Ba mặt tường nhà được làm bằng đất bùn trộn rơm, đắp dày và mát.
Vách mặt tiền ghép từ những tấm gỗ xẻ mỏng, chỗ kín chỗ hở. Bước ra khỏi nhà là hiên ,đúng kiểu nhà ba gian của miền Bắc.
Nền nhà bằng đất nện, chắc và phẳng, chỉ lõm xuống đôi chỗ vì bị mòn theo năm tháng và dấu chân người.
Trừ vách sau được trát kín bằng đất, còn lại vách nào cũng có cửa sổ cho sáng và thoáng.
Ngoài sân là một giàn dưa tây phủ từ mái hiên vươn ra.
Giàn vừa che nắng, vừa có quả để ăn. Những trái dưa xanh, to, treo lủng lẳng trên cao, nhìn lên đã thấy mát mắt.
Bên trái căn nhà ba gian là một nhà phụ làm bếp.
Bếp cũng vách đất, mái cỏ tranh, nhưng nền thấp hơn.
Mỗi khi mùa mưa đến, bếp thường bị dột, nước mưa tràn vào nền, ẩm ướt và lạnh chân.
Giữa nhà chính và bếp là cái giếng dùng để lấy nước ăn và sinh hoạt. Bên hông, đoạn giữa bếp và chòi bán tạp hóa là chuồng lợn. Sau chuồng lợn là nhà xí, mọi thứ xếp sát nhau, tiện hơn là sạch.
Ở đây, lúa chỉ trồng được vào mùa mưa. Mùa khô chỉ còn mía.
Mía được trồng quanh nhà, chỗ nào cũng có mía, xen sắn và khoai lang, thứ gì sống được là trồng, thứ gì ăn được là giữ.
Trước cửa nhà chính là những luống mía cao và các rãnh nước lớn. Vì nền đất thấp, ông bà phải đào đất đắp thành luống để trồng mía, chừa lại những khoảng trũng. Mỗi khi mưa về, những khoảng trũng ấy lại hóa thành những con rạch nhỏ, vịt bơi bì bõm suốt ngày,
Ranh đất mặt tiền và mép đường bên phía nhà ông cũng thấp ngang nhau. Cứ đến mùa mưa, nửa con đường phía bên nhà ông ngập lên như một cái ao nhỏ, rau muống mọc đầy. Đi qua phải lội nước ngập quá đầu gối.
Sau nhà là một khoảng đất thấp hơn nữa.
Mùa mưa Ông bà trồng lúa ở đó.
Có một khoảnh trũng sâu khá lớn, đó là chỗ ông bà từng đào đất thủ công để đắp lên nền nhà và nền bếp, nên nước mưa cứ dồn về, năm nào cũng đầy như một cái ao nhỏ
Bà Hai là một người đàn bà tháo vát. Dáng người hơi thấp, lưng không thẳng hẳn vì quen gánh gồng, nhưng bước đi lúc nào cũng nhanh nhẹn. Da bà trắng hơn hẳn những người đàn bà quanh vùng. Mái tóc uốn phi-rê kiểu ca sĩ, chải gọn, kẹp cao phía sau gáy.
Bà làm được đủ thứ việc: nông nghiệp, chăn nuôi, buôn bán nhỏ.
Bà lấy hàng về bán cho các hộ dân trong vùng, bán cho cả thợ rừng,bia hơi, nước mía,mì tôm, mắm muối, khi vài mét vải, mấy gói thuốc lào, cân đường, gói bột ngọt. Trong nhà, việc gì bà cũng biết tay, biết việc, xoay xở đâu ra đó.
Nó nghe kể lại rằng ông gặp và bén duyên với bà khi bà còn công tác trong đoàn văn công của xã.
Bà hát chèo hay, giọng trong và cuốn, đứng trên sân khấu nhỏ giữa sân đình mà người xem vây kín.
Ông đi vẽ tranh thờ cho xã bà.
Những buổi trưa nghỉ tay, ông ngồi nghe bà tập hát
Rồi chẳng biết từ lúc nào, ông đã siêu lòng, bởi giọng hát, bởi dáng người nhỏ mà lanh lợi, bởi cái cách bà cười thoáng nhưng rất có duyên.

Bữa cơm đầu tiên diễn ra trong căn nhà ba gian, ngay trên chiếc bàn dài kê ở gian bên phải.
Mâm cơm thịnh soạn hơn thường ngày,
Đĩa thịt vịt luộc,đĩa cá chép rán, Hai cốc bia hơi cho ông nội và bố,
Cơm trắng nấu bằng gạo mới, canh rau ngó khoai môn, thêm đĩa cá kho mặn và bát cà muối.
Không ai nói nhiều. Chỉ có chú út là kén ăn, nằng nặc đòi lấy trứng cá rồi mới chịu ăn.
Nó thì ngoan ngoãn ngồi ăn ngon lành
Ông bà và bố, mỗi người ăn một chút, chậm rãi, như để dành phần cho người khác.
Tiếng bát đũa khẽ chạm nhau, nghe rõ trong không gian yên tĩnh của căn nhà lợp lá.
Có những khoảng lặng rất dài giữa các lần gắp thức ăn.
Như thể ai cũng đang ăn, mà đồng thời cũng đang nghĩ đến những điều chưa nói ra.
Nó ngồi sát bố.
Chân chạm nền đất mát lạnh.
Mùi khói bếp, mùi cơm mới, mùi đất ẩm quyện vào nhau ,những mùi rất lạ, nhưng cũng rất thật.
Thỉnh thoảng, nó ngẩng lên nhìn quanh, nhìn căn nhà còn xa lạ, nhìn cái đèn dầu vặn lửa nhỏ trên bàn thờ cụ bà lặng lẽ ở gian giữa, rồi lại cúi xuống bát cơm của mình.
Ăn xong, trời sập tối rất nhanh.
Bóng chiều vừa tắt thì bóng đêm đã kịp tràn vào, không báo trước.
Những âm thanh ban ngày lặng dần, nhường chỗ cho tiếng côn trùng rả rích từ khắp nơi vọng lại.
Đèn dầu được thắp lên. Ánh sáng vàng yếu ớt tỏa ra, chỉ đủ soi rõ một khoảng nhỏ trong nhà. Bóng người đổ dài lên vách đất, chập chờn theo từng làn gió lùa qua khe gỗ.
Muỗi nhiều.
Muỗi bay thành từng đám, vo ve quanh ánh đèn.
Bà Hai đốt lá khô xua muỗi, khói cay xè, ám mùi rất lâu trong nhà.
Nó nằm nghe bố và ông bà nói chuyện,những câu chuyện của hôm qua, hôm nay, và ngày mai, nó nghe tiếng muỗi vỗ cánh bên tai, vừa sợ vừa quen, kiểu sợ của một đứa trẻ biết rằng không còn cách nào khác ngoài chịu đựng.
Chỗ ngủ được trải ra ngay trên sập gỗ. Chiếc chiếu cói đã cũ, sờn mép.
Nó nằm quay mặt vào trong, lưng áp sát bố.
Thân sập cứng, mát lạnh.
Mỗi lần trở mình, gỗ lại kêu cọt kẹt rất khẽ.
Nằm trong bóng tối, nó bắt đầu nhớ.
Nhớ mẹ. Nhớ cái dáng đi lật đật của mẹ, nhớ những lần mấy chị em cùng mẹ ngồi bên bếp củi chờ nồi khoai luộc, nhớ những lần đi về nhà bà ngoại cùng mẹ. Nhớ chị gái, nhớ em trai nó. Nhớ con đường làng quen thuộc, nhớ bạn bè, nhớ những hôm chạy đùa đuổi bắt trên những ruộng đất mới cày chờ cấy, nhớ cô giáo ,người vẫn đứng trên bục giảng, giọng đều đều đọc bài mỗi sáng.
Ở đây không có tiếng gọi quen.
Không có ai biết tên nó ngoài bố.
Nó chợt hiểu rằng mình đang nằm ở một nơi rất xa nhà.
Một chỗ ngủ lạ.
Một mái nhà không thuộc về ký ức cũ. Và chuyến đi này, không ai nói ra, nhưng nó biết ,chưa biết bao giờ mới có ngày quay về.
Nó quay người, kéo sát người lại gần bố hơn.
Bố không nói gì. Chỉ đặt tay lên lưng nó, bàn tay to, thô, ấm.
Cái chạm rất nhẹ, nhưng đủ để nó yên tâm nhắm mắt.
Ngoài kia, côn trùng vẫn kêu.
Đèn dầu chập chờn.
Nó ngủ thiếp đi trong tiếng dế kêu đều đều bên ngoài cửa sổ.
Đêm đầu tiên trên vùng đất mới kéo dài, lặng lẽ.

01/01/2026

HỒI ỨC VỀ CHA
CHƯƠNG 2
Phần 2 – Nơi Hai Con Đường Gặp Lại
Vùng đất ông và bà Hai đang sống là vùng kinh tế mới, thuộc miền Nam Trung Bộ.
Một miền đất được hình thành từ những cuộc giãn dân kéo dài suốt nhiều năm, khi Nhà nước đưa người từ những nơi đông dân, đất chật, từ miền Trung, miền Bắc… vào khai hoang, lập nghiệp ở những vùng còn hoang hóa.
Ai muốn đi thì đăng ký.
Nhà nước hỗ trợ cho đi.
Mỗi hộ được cấp một thửa đất rộng mênh mông, rộng đến mức, với những người quen sống chen chúc ở làng quê cũ, khi bước chân tới đây, không khỏi ngỡ ngàng.
Đất trước kia là đất rừng.
Cây bụi, lau lách, rễ chằng chịt.
Máy ủi về trước đó vài năm, san phẳng mặt đất, mở lối, chia thửa.
Người đến sau tiếp tục cắm rễ, dựng nhà.
Mỗi nhà được cấp một khung nhà gỗ, mái tôn blo-xi-măng, nền đất nện phẳng.
Vách tường làm bằng đất bùn trộn rơm rạ, cỏ khô, phơi nắng cho se lại.
Nhà ông cũng như thế.
Phía trước nhà, ông bà trồng những luống mía. Đất được cuốc cao thành từng luống, bên dưới nước đọng lại, nuôi thêm mấy con vịt bơi lõm bõm.
Sau nhà là ruộng lúa khô,những liếp khoai lang trồng lấy củ, lấy lá; rẫy ngô đã qua vài vụ.
Đất sau rẫy không còn hoang dại như thuở ban đầu, nhưng vẫn thô ráp — đất cát, đất sỏi.
Những gốc cây lớn bị đào bật lên vẫn còn để lại dấu vết.
Đá nằm lộ thiên sau mỗi mùa mưa.
Mặt rẫy chỗ cao chỗ thấp, còn nguyên những mấp mô của ụ mối, của rễ cây rừng chưa kịp mục hết.
Sau cuối rẫy là những cánh rừng chưa được khai hoang.
Từng đàn khỉ, lợn rừng vẫn kéo nhau ra ăn trộm ngô, sắn trên rẫy khi mùa chưa kịp thu hoạch.
Rừng đứng đó, xanh sẫm, lặng lẽ.
Xa xa, những cây cổ thụ cao hàng vài chục mét vươn lên, như một đường biên vô hình giữa phần đất đã thuộc về con người và phần còn nguyên vẹn của tự nhiên.
Mùa khô ở đây kéo dài.
Nắng miền Trung gay gắt, chói chang, nắng nặng, khô và lì.
Gió thổi qua cũng mang theo hơi nóng.
Đất nứt ra thành những đường nhỏ li ti.
Vùng đất của nắng, mưa, gió và cát.
Mùa mưa, cây cỏ xanh um tùm,
Mùa khô, cỏ cháy vàng,cây cối xơ xác
Da người sạm lại chỉ sau vài tháng.
Mùi mồ hôi, mùi đất, mùi nắng trộn lẫn trong không khí.
Nhà nước còn hỗ trợ tiền mua gạo, hạt giống trong những tháng đầu,chừng ấy thời gian để người ta kịp gieo hạt, kịp chờ mưa xuống, kịp nuôi hy vọng rằng đất mới rồi cũng sẽ cho ra cái ăn, cái mặc.
Ông theo bà Hai vào đây cũng là diện giãn dân.
Ông đi cùng bà năm đó.
Cái lần ông về nhà nó ăn bữa cơm sau cùng, rồi theo bà Hai vào trong này, chú út khi ấy còn nhỏ xíu, bế chưa vững.

Giữa vùng đất ấy, bên lề con đường đất rộng, có một quán nhỏ.
Vách đất.
Mái cỏ tranh.
Nép dưới gốc xoài non, tán còn thưa, bóng chưa đủ che hết nắng.
Ông bà dựng thêm cái chòi ấy để bán nước giải khát, bán tạp hóa, cho các hộ dân quanh vùng, cho người đi làm nương rẫy, cho thợ đi rừng đốn củi ghé lại nghỉ chân.
Bà Hai ngồi trong quán, tay thoăn thoắt rót bia hơi, pha mì tôm.
Cốc bia bốc bọt trắng.
Tiếng nói cười khàn đặc của thợ rừng vang lên giữa cái nóng hầm hập của xế chiều.
Cuộc sống ở đây không giàu.
Nhưng đã bắt đầu có nhịp.
Một nhịp sống mới
được dựng lên từ đất khai hoang,
từ những lần rời bỏ,
và từ những con người chấp nhận bước tiếp
khi phía sau không còn đường quay lại.
Bố vào quán hỏi mua một chai nước, rồi hỏi thăm đây có phải nhà ông không?
Bà không nhận ra bố con nó
Bố chưa kịp nói gì thêm thì bà Hai đã quay mặt vào trong, gọi lớn:
Ông ơi, có khách!
Trong quán có hai người đang ngồi uống bia hơi giải khát với đĩa lạc rang cho bớt cái nóng xế chiều, thở phì phò, mồ hôi túa ra ướt từ mặt xuống cổ,
Nố đứng vệ đường dưới tán cây tràm nhỏ, lá lưa thưa không đủ che nắng,
Lâu lâu có cơn gió mồ côi thổi nhẹ làm cho khoan khoái hẳn ra
Ông từ nhà trong đi vội ra.
Ông mặc áo ba lỗ trắng đã ngà ngà màu cát, , tay cầm chiếc quạt lá cọ, mồ hôi nhễ nhại trong cái nắng, cái nóng hầm hập.
Quần soóc màu ghi , cái bụng phệ làm cho dây thắt lưng trễ xuống, có lẽ do ông uống bia nhiều.
Ông béo hơn.
Già hơn.
Tóc dài đã bạc vuốt ngược ra sau đậm chất nghệ sỹ
Da đen hơn.
Khác hẳn lần cuối nó gặp ông ở nhà mình, nơi ngã ba làng năm ấy
Bố và ông nhận ra nhau
Bố buông bao quần áo xuống đất, ôm chầm lấy ông.
Hai người đàn ông đứng lặng, rớm nước mắt vì mừng,
Bố con ông cháu được gặp nhau.
Lần gặp nhau mà ông nội nó không được báo trước
Trong cái vui ấy, không ai nói thêm câu nào, lại lặng lẽ chất chứa một nỗi buồn,
Có lẽ ông nó nghĩ
rằng vì sao bố con nó lại phải vất vả vào đến tận nơi này.
Phải chăng, đã có chuyện gì đó xảy ra.
Nó đứng phía sau lưng bố,
Không bước lên.
Không chen vào vòng tay đang ôm chặt ấy.
Nó đứng yên, hai tay vẫn cầm chắc bao tải nhỏ quần áo, nhìn qua lưng bố,tấm lưng đã ướt mồ hôi, áo sẫm màu vì đường xa và nắng gió.
Từ chỗ nó đứng, chỉ thấy một phần khuôn mặt ông.
Một bên má phập phồng.
Khóe mắt đỏ lên rất nhanh, rồi ông quay đi, như sợ người khác nhìn thấy.
Nó nhận ra ông trước cả khi ông nhận ra nó.
Vẫn là dáng người ấy.
Nhưng thấp, đen và béo hơn trong trí nhớ của nó.
Và nặng nề hơn.
Cái bụng to tràn qua cạp quần.
Làn da sạm đen, rám nắng.
Những sợi tóc bạc nhiều hơn tóc đen vuốt ngược ra sau của, lộ rõ dưới ánh nắng xế chiều.
Ngày trước, ông cao và gọn.
Giọng nói vang.
Dáng đi nhanh.
Còn bây giờ, ông đứng đó, thở gấp, như thể cái nóng nơi này đã ngấm vào người ông từ lâu lắm rồi.
Nó đứng sau lưng bố, thấy rõ vai bố rung lên rất khẽ.
Không phải vì khóc thành tiếng.
Mà vì cố nén.
Bố ôm ông thật lâu.
Lâu hơn mức cần thiết của một cái ôm mừng gặp lại.
Như thể nếu buông ra, cả quãng đường vừa đi qua sẽ đổ ập xuống.
Nó chợt thấy cổ họng mình nghẹn lại.
Nó muốn bước lên.
Muốn gọi một tiếng “ông”.
Nhưng chân nó không nhúc nhích nổi.
Bởi trong khoảnh khắc ấy, nó hiểu
cuộc gặp này không chỉ là gặp nhau,
mà là gặp lại cả một đoạn đời đã rẽ sang hướng khác.
Nó nhìn quanh.
Quán nhỏ.
Vách đất.
Mái tranh.
Hai người khách trong quán bỗng im lặng, quay đi chỗ khác, như tự động nhường lại khoảng riêng cho ba ông cháu.
Gió nóng thổi qua.
Mùi bia.
Mùi mồ hôi.
Mùi đất khô.
Nó đứng đó, phía sau lưng bố, lần đầu tiên trong đời nhận ra một điều rất rõ ràng:
ông nó đã đi rất xa.
Và bố nó cũng đã đi rất xa.
Chỉ là hai con đường ấy gặp lại nhau ở một nơi không ai từng nghĩ tới.
Khi bà Hai vội vã mời mọi người vào trong nhà, giọng bà lạc đi vì xúc động, nó mới khẽ bước lên một bước.
Ông quay lại.
Ánh mắt ông dừng trên nó.
Lâu hơn một nhịp.
Rồi ông đưa tay ra, đặt lên đầu nó
bàn tay thô ráp, nóng hổi, mùi nắng gió bám chặt.
Không nói gì.
Nhưng cái chạm ấy đủ để nó biết:
ông đã nhận ra nó rồi..!

31/12/2025

HỒI ỨC VỀ CHA

CHƯƠNG 2 PHẦN 1- Vết Chân Cũ Trên Vùng Đất Mới

Rời Bình Chánh

Bố thuê một chiếc xe ôm.

Hai bố con lên xe.

Lưng bố đeo một bao tải quần áo cũ, một bao buộc phía trước.

Xe nổ máy.

Con đường dẫn ra bến xe sao mà dài thế.

Dài như thể mỗi mét đường đều phải trả bằng thời gian và mồ hôi.

Rồi xe ôm cũng chở hai bố con ra lại bến xe Miền Đông.

Bố bảo nó ngồi trông hai bao tải quần áo, còn bố thì vào mua vé xe khách.

Điểm đến lần này là một vùng đất Nam Trung Bộ — theo địa chỉ ghi trên tờ giấy đã nhàu.

Bố nói đó là nơi ông nội đang sống, cùng bà hai và chú út.

Suốt quãng đường ấy, trong đầu nó hiện lên những điều mình biết, và những câu chuyện người lớn từng kể về ông nội.

Ông là một người phong độ.

Đẹp trai, cao ráo, nói chuyện cuốn hút, có thể dạy cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp.

Ông sinh ra và lớn lên trong thời Pháp thuộc.

Không theo cộng sản.

Cũng không chống cộng sản.

Ông chỉ chọn cách nương theo thời thế để tồn tại, để nuôi gia đình, để sống sót qua những năm tháng mà chỉ một lựa chọn sai cũng có thể phải trả giá bằng cả cuộc đời.

Ông là con trai duy nhất của cụ.

Dưới ông là hai bà em gái.

Cụ từng làm công nhân kỹ thuật cho nhà máy than của Pháp, có nhà ở thủ đô.

Ông nội lấy bà nội ở quê, đưa bà lên thành phố sinh sống.

Ở đó, họ sinh ra sáu người con — một gia đình đông đúc, chật chội, nhưng có tiếng cười.

Rồi đất nước đổi thay.

Sau ngày giải phóng, ông bà dắt díu các con và cụ trở về quê sinh sống — nơi có mộ mả tổ tiên, nơi đất vẫn còn nhớ dấu chân người cũ.

Thuở trẻ, ông từng dạy tiếng Pháp cho các lớp học trong thành phố.

Sau này về quê, ông không ở yên một chỗ.

Ông cắt tóc.

Chụp ảnh.

Vẽ truyền thần.

Vẽ tranh thờ.

Đôi tay ông khéo.

Cái đầu ông sáng.

Nhưng cuộc đời thì không cho ông một con đường thẳng.

Khi các con đã trưởng thành, ông bén duyên với bà hai trong những lần đi vẽ tranh ở các làng khác.

Rồi có thêm một người con trai — chú út của nó.

Sau này, làng của bà hai thuộc diện đi kinh tế mới.

Một lần giãn dân.

Một lần rời bỏ nữa.

Ông nội đi theo bà hai và chú út.

Bà hai được cấp đất.

Họ bắt đầu lại từ đầu.

Ông tập làm nông.

Trồng rau.

Trồng mía.

Thỉnh thoảng, ông dạy tiếng Anh, tiếng Pháp cho trẻ con trong vùng.

Cuộc sống còn nghèo

Nhưng yên.

Ông có vẻ hài lòng với con đường mình đã chọn.

Chỉ là, đôi khi

trong những buổi chiều muộn,

khi ánh nắng đã tắt sau hàng soài mới lớn

nỗi buồn vẫn lặng lẽ ghé qua.

Không ồn ào.

Không trách ai.

Chỉ buồn, như một người đã đi quá nhiều chặng đường,

và hiểu rằng:

có những ngã rẽ,

một khi đã bước qua,

thì không thể quay đầu.

Có lần ông nội về nhà nó chơi.

Khi ấy, nhà nó còn ở căn nhà ngã ba đầu làng.

Ông phong độ: quần tây, áo sơmi

đóng thùng, giày tây, mũ phớt.

Mái tóc mới chớm ngả màu muối tiêu.

Bố nó dọn mâm cơm rượu mời ông.

Ông không nói nhiều.

Ông nói về chuyện vào miền Nam với bà hai.

Bố không nói gì.

Chỉ mong ông giữ gìn sức khỏe.

Miền Nam khi ấy xa xôi lắm.

Bố nó trùng lại một nhịp —

như thể trong lòng đã thoáng nghĩ:

không biết bao giờ bố con mới lại được gặp nhau.

Ông dặn nó phải ngoan, phải cố gắng học giỏi.

Rồi ông đi.

Nó giật mình quay về hiện tại

khi xe khách sụp xuống một ổ gà lớn.

Thân xe nảy lên rồi dằn xuống.

Hai bao tải quần áo phía trước xô vào đầu gối.

Bố đưa tay giữ lại, siết chặt hơn quai bao.

Không ai nói gì.

Xe khách tiếp tục lăn bánh,

đưa hai bố con rời xa dần thành phố về gền vùng quê

Về vùng đất Nam Trung Bộ

vùng đất mà lần này,

những câu chuyện về ông nội

không còn nằm trong lời kể nữa,

mà đang chờ hai bố con ở phía trước

Miền đất hai mùa rõ rệt.

Mùa mưa.

Và mùa khô.

Cái nắng mùa khô gay gắt.

Gió thổi qua cũng mang theo hơi nóng,

thứ nắng của vùng đất gần đường xích đạo,

nơi mặt đất như lúc nào cũng khát nước.

Xe đi qua một ngã ba tỉnh lộ.

Dừng lại.

Hai bố con xuống xe.

Không có điện thoại để gọi.

Không có ai đứng đợi.

Chỉ có tờ giấy với vài dòng chữ nguệch ngoạc,

tên người, tên thôn, và một hướng rẽ mơ hồ.

Bố thuê một chiếc xe ôm.

Hai bố con lại leo lên xe.

Vẫn một bao tải buộc phía trước.

Một bao bố vác phía sau lưng

Xe nổ máy, rẽ vào con đường nhỏ.

Con đường dẫn đi sâu vào trong.

Càng đi, nhà cửa càng thưa.

Đường cát nhiều dần.

Chỗ khô thì cát trắng, mịn.

Bánh xe trượt ngang, mấy lần nghiêng

hẳn sang một bên.

Chỗ thấp thì là những rãnh dài,

dấu tích của bánh xe trâu xe bò kéo gỗ để lại

Bánh xe lăn qua.

Bụi cát bắn lên ống quần.

Phủ trắng lên đôi giày đã cũ của bố

Xe ôm chạy chậm.

Thỉnh thoảng dừng lại hỏi thăm.

Người ta chỉ tay.

Có người lắc đầu.

Có người bảo:

“Đi thêm một đoạn nữa.”

Bố không thúc.

Chỉ gật đầu.

Như thể ông đã quen với việc

phải đi thêm một đoạn nữa trong đời.

Qua vài khúc quanh, con đường hẹp dần.

Hàng cây thấp lá dính đầy bụi mịn như

nói với nó trời đã không có trận mưa

nào mấy ngày nay

Bụi cát bay lên, bám vào tóc, vào mặt.

Nó ngồi phía sau bác lái xe, bụi bay phủ mờ lên ống quần, lên đôi dép cũ

Nó nghe rõ từng nhịp rồ ga khi xe vào đoạn đường cát

nghe rõ từng nhip thở của bố phía sau đều đều,

nhịp thở của một người đàn ông đã quen gánh vác,

không còn than vãn.

Rồi xe chậm lại.

Dừng hẳn.

Trước mắt hai bố con là một khoảng

đường đất rộng mở ra. Bên cao bên thấp,

Căn chòi lợp lá nhỏ,vách đất không hàng rào

Không cổng lớn, chỉ có

Biển hiệu nhỏ và dòng chữ bia hơi , kính mời

Xa xa là vài mái nhà thấp.

Hàng rào đơn sơ.

Vạt rau xanh chen giữa đất cát

Hàng rào là những luống mía.

Có mấy đứa trẻ con đang chơi dưới nắng.

Xe ôm quay đầu nhìn bố.

“Chắc là đây.”

Bố trả tiền.

Xách bao tải xuống.

Đặt ngay ngắn bên đường.

Hai bố con đứng lại một nhịp.

Giữa vùng đất lạ.

Giữa cái nắng miền Trung chói chang.

Rồi quay sang nó, đặt tay lên vai nó,

bàn tay gầy,nhưng chắc.

“Đến rồi.”

Nó không biết vì sao tim mình bỗng đập nhanh hơn.

Không hẳn là mừng.

Cũng chưa hẳn là lo.

Chỉ là cảm giác đứng trước một ngưỡng cửa mới

nơi những câu chuyện về ông nội,

về những lần rời đi,

về những ngã rẽ không thể quay đầu…

giờ đây không còn nằm trong lời kể nữa,

mà đang hiện ra trước mắt.

Hai bố con xách bao,

Con đường phía trước còn dài.

Nhưng lần này,ít nhất

họ đã đến được

một nơi để dừng chân

Nó đứng đó, hai tay vẫn nắm chặt quai bao tải.
Mồ hôi thấm lưng áo.

Bụi cát dính đầy ống quần.

Mồ hồi chảy dài trên má

Trong đầu nó, lần đầu tiên, hiện lên một

câu hỏi mà trước đó chưa từng dám nghĩ tới:
Rồi bao giờ thì mình trở về?

Hay là…không trở về nữa?

Nó không dám hỏi bố.

Không phải vì sợ câu trả lời,

mà vì sợ chính câu hỏi ấy

sợ chỉ cần thốt ra thôi,

thì con đường sau lưng sẽ tự khép lại.

Bố đứng cạnh nó.

Nhìn về phía những mái nhà thấp xa xa.

Ánh mắt ông không dò hỏi,

cũng không tỏ ra do dự.

Nhưng trong khoảnh khắc rất ngắn ấy,

nó chợt nghĩ:
không biết trong lòng bố, có bao giờ hiện

lên cùng một câu hỏi như mình không?

Rằng sau vùng đất này là gì.

Rằng đây là điểm dừng…

hay chỉ là một chặng nghỉ trước khi lại

phải đi tiếp.

Bố không nói.

Ông chưa từng nói về chuyện quay về

hay ở lại.

Như thể với ông,

đã bước đi rồi thì cứ đi,

còn ngày mai,để ngày mai tự trả lời.

Nó hiểu,

từ giây phút này trở đi,

cuộc đời hai bố con sẽ gắn với vùng đất này

bằng những ngày chờ đợi rất dài:

chờ đất quen chân,

chờ người quen mặt,

chờ một cảm giác gọi được tên là nhà.

Và cả chờ một điều mơ hồ hơn

Chờ xem liệu có một ngày nào đó,
con đường sau lưng,lại được gọi bằng hai chữ:
trở về..

30/12/2025

HỒI ỨC VỀ CHA
CHƯƠNG 1
PHẦN 6 – Những Năm Tháng Bố Gánh và Giã Từ Ngôi Nhà Thứ Hai

Khói vàng mã bay lên, mỏng và chậm.
Nó cúi người châm thêm một tờ giấy, ngọn lửa liếm nhẹ rồi tắt.
Gió trên nghĩa địa thổi ngang, mang theo mùi khói, mùi đất ẩm, mùi cỏ dại.
Đây không phải lần đầu nó về.
Cũng không phải lần cuối.
Chỉ là… một lần nữa.
Nó đứng trước mộ bố, mắt nhìn mà tâm trí trôi về một quãng rất xa
Quãng đời mà mỗi khi chạm tới, lòng nó lại nặng như vừa lội qua một cơn mưa dài.
Khói bay vào mắt.
Khóe mắt nó cay cay.
Nó chớp liên tục, như thể chỉ cần chậm một nhịp thôi, ký ức sẽ ùa về… và cuốn nó đi.

Và đúng là thế.
Biến cố ập đến khi em trai nó vừa tròn một tuổi.
Mẹ nó bị tai biến.
Méo mồm.
Liệt nửa người.
Tai họa đến nhanh như một nhát chém không báo trước.
Cả nhà chưa kịp hiểu chuyện gì thì mọi thứ đã đảo lộn, như cái mái nhà đang yên lành bỗng bị giật tung.
Bố chạy chữa khắp nơi.
Đưa mẹ lên bệnh viện tỉnh.
Bán hết nhà cửa.
Bán tiệm may.
Bán tất cả đồ đạc trong nhà.
Bán cả chiếc xe Babetta — thứ tài sản đáng giá cuối cùng mà bố có.
Những thứ bán đi không chỉ là đồ đạc.
Nó là từng bậc thềm, từng dấu chân, từng thứ gắn với một đời người.
Nhưng bố không do dự.
Vì mẹ.
Nó được gửi về ở nhà ông nội, sống cùng các chú.
Nhà ông nội ngày ấy là căn nhà ngói năm gian.
Có nhà ngang bên phải là gia đình chú lớn ở.
Vợ chồng chú út ở chung trong nhà năm gian.
Nó là đứa nghịch ngợm, phá phách.
Ở nhà chỉ sợ mỗi bố.
Xa bố, không còn ai giữ, nó như con ngựa non dễ lạc giữa đời.
Trước hè nhà, bên trái, cạnh cái bể chứa nước, có một đống rơm lớn.
Nó hái mấy quả hồng xiêm còn xanh, giấu vào đó để giấm cho chín.
Từ sáng đến trưa, nó chạy ra chạy vào mấy lượt, chỉ mong được ăn.
Mãi không thấy chín.
Rồi nó dại khờ.
Nghe mấy đứa lớn hơn xúi:
“Đốt rơm cho nhanh chín.”
Hôm đó nhà hai chú không có ai.
Nó lấy que củi, khều cái bao diêm của chú qua cửa sổ.
Nó đốt.
Khói bốc lên.
Lửa bén.
Đống rơm cháy rừng rực.
Nó hoảng sợ, chạy trốn ra sau nhà.
May mà có người hàng xóm đi qua nhìn thấy.
Hô hoán cả làng.
Mọi người ùa đến dập lửa.
May mắn…
ngôi nhà năm gian của ông nội không bị cháy rụi.
Chú về.
Một trận roi đau thấu.
Ông nội đang ở xa, nghe tin nhà suýt cháy, vội về.
Gọi nó ra hỏi tội.
Thêm một trận roi nữa, đau nhừ mông.
Bố đang chăm mẹ ở bệnh viện, nghe tin thì giận lắm.
Về nhà, không nói nhiều.
Chỉ thêm một trận roi nữa.
Ba trận roi.
Ba nỗi sợ in sâu vào da thịt.
Mấy ngày sau, nó vẫn giật mình mỗi khi nghe ai gọi tên.
Bố dặn nó phải ngoan, không được nghịch dại nữa.
Nó vâng vâng dạ dạ.
Rồi… cũng lại quên.
Chị và em trai nó được gửi về nhà bà ngoại.
Nhà bà ngoại cách nhà nội mấy cánh đồng.
Nó ít khi được xuống chơi.
Chị nó hiền, ngoan, nhút nhát.
Em trai vừa cai sữa, mới tròn một tuổi.
Bà ngoại và các bác nấu cơm, chắt nước cơm nóng, pha đường cho em uống thay sữa mẹ.
Tối đến, em khóc ròng vì thiếu hơi mẹ.
Tiếng khóc non nớt xé toạc cả không gian yên tĩnh của làng quê.
Các chị nhà bác thay nhau bế.
Ngồi trên trõng tre, rung đến muốn sập.
Em vẫn khóc.
Chỉ khi khóc mệt quá, em mới thiếp đi.
Vài ngày sau… em quen dần.
Không còn khóc nữa.
Chị em nó xa nhau mấy tháng trời, từ ngày mẹ nhập viện.
Bố ở viện chăm mẹ.
Ba tháng trời, mẹ nằm liệt.
Chiếc xe đạp cũ bố dùng đi lại cũng bị trộm mất.
May mà chú rể của bố là bác sĩ trong viện, nên mẹ được nhờ vả phần nào.
Nhưng bệnh não thì không thể khỏi hẳn.
Mẹ đổi tính.
Dễ cáu.
Dễ chửi.
Bố tập cho mẹ đi từng bước.
Một người đàn ông chân có tật, đi khập khiễng, thân hình nhỏ thó,
Kiên nhẫn dìu người vợ nặng nề tập bước, từng chút một.
Có lần dì út đến thăm.
Thấy mẹ quát chửi bố thậm tệ chỉ vì mang cơm không đúng ý.
Bố chỉ cười.
Nhẹ giọng nói:
“Bị bệnh não nên thế.
Mong về nhà rồi sẽ khá hơn.”
Ra viện.
Nhà cửa đã bán.
Tiệm may đã bán.
Nợ nần chồng chất.
Không còn tiền.
Cả nhà về ở nhờ nhà ông nội.
Nhà vốn đã có hai gia đình chú thím.
Chật chội.
Dễ va chạm.
Mẹ bệnh, nói đi nói lại nhiều.
Mâu thuẫn ngày một nhiều hơn.
Bố vẫn vay mượn tiền mua thuốc bắc về sắc cho mẹ uống.
Rồi mẹ cũng khỏe hơn.
Đi lại được.
Giúp bố nấu cơm, giặt giũ.
Nhưng thần kinh…
không bao giờ trở lại như cũ.
Bố lại vay.
Đổi ruộng.
Đổi đất bãi.
Bù thêm tiền.
Cuối cùng cũng đổi được mảnh đất ở ngã ba đầu làng.
Bố nhờ người vượt ruộng, đào ao lấy đất đắp nền nhà.
Đội đào ao là anh họ bên ngoại — cháu vợ của bố.
Sau này nó mới biết,
tiền công bố vẫn còn nợ.
Nợ anh cả một ân tình.
Có lần mẹ nấu cơm cho thợ.
Gạo phải đi vay.
Nồi cơm lớn bị cháy khét.
Trưa ấy thợ nhịn đói.
Bố quát mẹ.
Mọi người can.
Nó nhớ mình còn phụ bố khoan lỗ những cây luồng to.
Bố nhờ người khiêng ngâm dưới máng nước cạnh nhà.
Vài tháng sau vớt lên, làm kèo lợp mái.
Cuối cùng, nhà cũng dựng xong.
Mái ngói.
Nhà nhỏ.
Vừa đủ kê cái bàn cắt may.
Một cái giường ngủ.
Chiếc máy khâu con bươm bướm.
Cái tủ gỗ treo quần áo của khách.
Trên nóc tủ, bố đặt bát hương và di ảnh bà nội.
Lúc nào cũng sạch sẽ.
Luôn có quả bưởi, hoặc nải chuối, và lọ hoa tươi.
Bố nó là một người con rất có hiếu.
Thời gian đầu, ngôi nhà nhỏ xíu ở ngã ba làng vừa là tiệm may,
vừa là chỗ bố mẹ và em trai ngủ.
Nó và chị vẫn phải vào nhà ông nội ngủ nhờ mỗi tối.
Ăn cơm xong, hai chị em dắt nhau, cầm cặp sách đi trong bóng tối.
Con đường vào nhà ông nội phải đi qua ao làng, nhiều hôm trời tối đen như mực.
Hai đứa vừa đi vừa hát cho đỡ sợ.
Tim vẫn run.
Sau một thời gian, bố tự tay xây thêm căn nhà ngang, cách nhà làm may một khoảng vườn rau.
Bố nhờ chú út đảo vữa cát với vôi.
Nó đi học về thì khuân gạch, xúc vữa cho bố xây.
Mọi người ai cũng nể bố, thương bố
Chân tập tễnh mà vẫn tự leo lên giàn giáo.
Có khách đặt quần áo thì bố may.
Không có khách thì bố xây.
Nó đi học về lại phụ giúp.
Người ta nể bố vì biết làm, vì chịu khó.
Nhưng thương bố còn nhiều hơn
một người đàn ông với thân hình nhỏ, có tật mà phải gánh vác tất cả, chẳng bao giờ kêu than,
Nhà ngang rồi cũng xong.
Mẹ, chị và em trai nó dọn vào ở.
Nó được ngủ với bố.
Trước khi ngủ, bố hay căn dặn, dạy dỗ nó nhiều.
Nó vâng dạ.
Rồi cũng chẳng vào đầu được bao nhiêu.
Nó nghịch.
Nhưng nó biết sợ bố.
Biết thương bố khi bố buồn.
Bố nuôi cá ở ao.
Nó đi học về thì câu cá cho mẹ rán ăn cơm.
Ngôi nhà ấy nằm đúng chỗ giao nhau giữa trục đường liên xã
và con đường nhỏ dẫn vào thôn.
Ai đi qua cũng nhìn thấy.
Nhưng để có được nó,
bố đã đánh đổi gần như tất cả.
Đổi từng mảnh ruộng — những thửa đất xã cấp theo nhân khẩu để cấy lúa.
Đổi cả đất bãi ven đê sông Hồng.
Đổi bằng nợ.
Đổi bằng mồ hôi.
Đổi bằng những đêm thức trắng.
Tiệm may mở lại.
Ban đầu có khách.
Có tiền mua gạo.
Rồi khách nợ.
Cụt vốn.
Bố vay thêm tiền nhập vải.
May xong, khách vẫn nợ.
Mặc rách cả quần áo mà tiền chưa trả.
Vốn lại cụt.
Bố lại nợ.
Nợ hàng xóm.
Nợ họ hàng.
Bên nội.
Bên ngoại.
Có nhiều khi nhà không còn gạo để ăn.
Dì út là người hay giấu mang gạo, cho chị em nó lén mang về.
Có lần đi vay hàng xóm gạo về nấu cơm,
mẹ chân tay luống cuống làm đổ rá gạo xuống đất.
Gạo trộn lẫn đất cát.
Bố quát mẹ mấy câu.
Rồi bố lại ngồi thở dài.
Bố buồn.
Các con lại phải nhịn đói qua trưa.
Cơm nấu độn sắn.
Nó với em nó chỉ đòi ăn cơm.
Bố lại đòi ăn sắn.
Nó đâu có biết.
Có khi bữa cơm cả nhà chỉ có một quả trứng,
trộn với bột gạo, rán được cả một đĩa to, chia ra cho đủ miệng.
Có khi là một nắm lạc rang trộn nước mắm.
Bao nhiêu vất vả lo toan, bố gánh hết.
Không một lời than vãn.
Rồi sổ đỏ mảnh đất cũng phải thế chấp ngân hàng.
Có lịch, nhân viên ngân hàng đến đòi.
Bố không có tiền trả.
Bố bảo nó vác cuốc xẻng ra bờ ao trồng chuối, trồng chanh.
Họ ra tận bờ ao tìm.
Toàn là người quen.
Họ nể bố.
Và thương bố.
Không có tiền, bố khất.
Họ buồn.
Bố buồn nhiều hơn.
Nó theo bố mọi nơi.
Nó biết nhiều điều.
Nhưng nó còn quá non.
Nhiều khi, nó thấy bố ngồi một mình ở bờ ao.
Ngồi thẫn thờ.
Nhìn về một nơi rất sâu, rất xa —
một nơi mà nó chưa bao giờ chạm tới được.
Còn chị em nó…
Vẫn hồn nhiên.
Đi học về là ăn.
Rồi chạy khắp xóm.
Không biết rằng,
từng nhát cuốc,
từng viên gạch,
từng nồi cơm khét…
đều là những mảnh đời
bố đã gánh thay cho cả nhà.
Có tiếng chuông điện thoại reo.
Nó giật mình tỉnh khỏi dòng hồi ức.
Khói vàng mã vẫn bay, lẩn quẩn trong gió.
Nó nhìn xuống tay mình, tro dính đen ở kẽ ngón.
Không biết vì sao.
Chỉ thấy trong lòng nghẹn lại,
nặng trĩu.
Như có một lời muốn gọi “Bố ơi…”
mà cổ họng không bật thành tiếng.
Như có một câu “Con hiểu rồi…”
mà hiểu muộn quá.
Nó đứng thêm một lúc nữa.
Rồi cúi đầu.
Lần thứ N về thăm mộ bố
nỗi nhớ vẫn không cũ đi.
Chỉ sâu thêm.
Và lặng hơn.

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Ho Chi Minh City?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Website

Address


Củ Chi
Ho Chi Minh City