Thành phố Ninh Bình.

Thành phố Ninh Bình.

Share

Thành phố Ninh Bình phía đông bắc của tỉnh Ninh Bình diện tích 48,37 km² dân số 2019 128.480 người

14/03/2022

64 NGÔI SAO BẤT TỬ TẠI VÙNG BIỂN GẠC MA - LEN ĐAO: "KHÔNG MỘT AI BỊ LÃNG QUÊN VÀ KHÔNG AI ĐƯỢC PHÉP QUÊN LÃNG"

Danh sách 64 chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc bảo vệ đảo Gạc Ma cách đây 34 năm (14/3/1988 - 14/3/2022).

Máu của các anh lẫn vào biển xanh, xương của các anh đã thấm vào lòng đảo, tên các anh được đời đời thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ.

(*) Đồ họa VTC Nơ

01/01/2021
Photos from Thành phố Ninh Bình.'s post 30/04/2020

Bài học về sức dân

(ĐCSVN)- Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, của nhân dân hai miền Nam Bắc, kết hợp với sức mạnh thời đại dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) với đường lối chiến lược, chiến thuật, phương pháp cách mạng đúng đắn.
Đó là kết quả của đường lối xây dựng lực lượng cách mạng toàn diện bao gồm đội quân chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân, đã luôn kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị), bằng ba mũi giáp công (quân sự - chính trị và binh vận) … Với sức mạnh tổng lực đó, quân ta đã lần lượt đánh thắng các chiến lược của địch trong suốt hai thập kỷ.

Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử trong trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, là kết quả tất yếu của sức mạnh tổng hợp trên. Trong đó, mũi tiến công quân sự với quả đấm của 5 cánh quân chủ lực là mũi quyết định trực tiếp, mũi tấn công chính trị, sự nổi dậy của quần chúng là nền tảng sức mạnh tổng hợp, tạo nên cục diện kết thúc cuộc chiến tranh khốc liệt 30 năm giải phóng Sài Gòn gần như nguyên vẹn. Có thể nói, đó là sự kiện có một không hai trong lịch sử chiến tranh trên thế giới, có ý nghĩa to lớn, vừa thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phản ánh trung thực bản chất của dân tộc ta, vừa tác động to lớn đến sự phát triển đất nước sau chiến tranh.

Nhân dân Sài Gòn – Gia Định tự hào đã đóng góp công sức to lớn, tạo nên sức mạnh tổng hợp góp phần quan trọng vào chiến công hiển hách mang tính thời đại – Đại thắng mùa Xuân 1975. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, “quần chúng đã vào trận đúng lúc… Hành động yêu nước của nhân dân tạo ra khí thế cách mạng là sức mạnh to lớn. Đây là cái quý nhất của quần chúng Sài Gòn – Gia Định và đây cũng là kết quả của công tác tuyên truyền giáo dục, tổ chức và rèn luyện trong đấu tranh qua nhiều năm của Đảng bộ Thành phố”.

Truyền thống – hành trang xung trận

Dù sống trong môi trường là “tổng hành dinh” của quân xâm lược với bộ máy cai trị khổng lồ, nhân dân Sài Gòn có nhiều cuộc đấu tranh chính trị đông đảo nhất. Trong 30 năm cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, lịch sử đã nghi nhận những sự kiện trọng đại của nhân dân Sài Gòn: Tháng 8/1945, khi có lệnh khởi nghĩa, lập tức lực lượng cách mạng nằm trong các tổ chức công khai, bán công khai như Thanh niên Tiền phong, Công đoàn đồng loạt xung phong tiến công các cơ sở của địch. Rồi hàng triệu quần chúng gồm các tầng lớp nhân dân tràn ngập đường phố trung tâm với rừng cờ đỏ sao vàng hô vang khẩu hiệu “chính quyền về tay nhân dân”. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sự kiện “Đám tang Trò Ơn” (9/1/1950) là một cuộc biểu tình chính trị với biển người cuồn cuộn kéo dài cả chục cây số trong 8 giờ, “quan tài đến nghĩa trang Chợ Lớn mà người cuối cùng chưa ra khỏi trường Pétrus Ký”; rồi “ngày chống Mỹ” (19/3/1950) của học sinh Sài Gòn tràn ra đường phố với cờ đỏ sao vàng, hát vang những bài ca yêu nước, hạ cờ tam sắc, đốt cờ ba que, chặn xe lửa, lập chiến lũy, rượt lính Mỹ …

Trong thời kỳ chống Mỹ, phòng trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển mạnh, đa dạng, độc đáo mang đặc trưng của cư dân đô thị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Thành phố. Đó là “Phong trào dân tộc tự quyết”, hoạt động của “Ủy ban vận động hòa bình” (1965) đã lôi cuốn hàng ngàn nhân sỹ, tổ chức tham gia ra tuyên ngôn đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh; là “lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc”, “Hội bảo vệ nhân quyền và quyền lợi phụ nữ”, “Hội bảo vệ tinh thần thanh niên” cùng hàng loạt tờ báo như Tin Văn, Hồn Trẻ, Tiếng nói Trí thức … đã đấu tranh quyết liệt sự du nhập của văn hóa ngoại lai của Mỹ xâm lược. Đặc biệt phong trào “Sử ca”, “Kháng chiến ca”, “Hát cho đồng bào tôi nghe” của hàng vạn, hàng vạn Thanh niên vang rền đường phố, thúc giục, lay động lòng người, lôi cuốn người dân hướng về cách mạng. Nhân dân Sài Gòn – Gia Định, nhân dân cả nước và có lẽ cả thế giới không bao giờ quên sự kiện có một không khai ở bất kỳ một đô thị lớn nào trên thế giới thuộc địa là cuộc biểu tình đặc sắc Sài Gòn “Ký giả đi ăn mày” mang đậm đặc trưng của phong trào cách mạng đô thị.

Xe tăng quân giải phóng tiến thẳng vào dinh Độc Lập vào trưa 30/4/1975. (Ảnh tư liệu )
Sự đa dạng, phong phú, độc đáo của phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi, liên tục của nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã trở thành truyền thống quý báu, hành trang vững vàng, nền tảng chắc chắn cho một cuộc xung trận mới, trận quyết chiến chiến lược, giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam.

Xung trận đúng lúc

Ngày 1/4/1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp, quyết định tập trung lực lượng để giải phóng Sài Gòn, với quyết tâm là bắt đầu và kết thúc vào tháng 4/1975. Theo đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Sài Gòn được thành lập, xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến của chiến dịch, trong đó phân công đồng chí Nguyễn Văn Linh – Phó Bí thư Trung ương Cục phụ trách công tác nổi dậy của quần chúng; đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục phụ trách công tác tiếp quản Thành phố sau giải phóng. Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị quyết định đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đảng bộ Sài Gòn – Gia Định được phân công “chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt để khi thời cơ đến, phát động quần chúng nổi dậy và tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ cơ sở đến Trung ương”. Đồng thời có nhiệm vụ chiếm giữ các cầu trọng yếu, khống chế trận địa pháo, sân bay của địch, chiếm các bàn đạp, mở đường và dẫn đường cho bộ đội chủ lực tiến công vào đánh chiếm các mục tiêu được phân công; tạo điều kiện cần thiết cho các binh đoàn chủ lực có chỗ tập kết; bảo đảm hậu cần tại chỗ cho chiến dịch …

Ngày 12/4/1975, Ban Thường vụ Thành ủy đã ra Chỉ thị “Những việc cần làm ngay trong các giai đoạn trước, trong và sau khi Thành phố được giải phóng” với nhận thức và quán triệt sâu sắc tinh thần “thời cơ 20 năm mới có một lần”. Chỉ thị nêu rõ: “Thời cơ khởi nghĩa là lúc mà các cuộc công kích và khởi nghĩa của ta xung quanh Thành phố thành công lớn, lực lượng quân địch bảo vệ thành phố bị đánh sụp, bọn địch đảo chính lẫn nhau hoặc thay đổi cấp lãnh đạo chóp bu, hàng ngũ địch rối loạn, không kiểm soát được tình hình hoặc rút chạy khỏi thành phố. Lúc này, dù quân chủ lực chưa vào vẫn phải phát động quần chúng nổi dậy tấn công và khởi nghĩa”. Thành phố đã xây dựng các đội quân của các ngành, các cấp sẵn sàng nhập cuộc, với những tài liệu cẩm nang quan trọng như Lời kêu gọi của Ủy ban Nhân dân Cách mạng Sài Gòn – Gia Định; Bảy điều về Chính sách binh vận của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; Tài liệu hướng dẫn quần chúng hành động (trước, trong và sau khi tổng công kích – tổng khởi nghĩa)…

Các tầng lớp nhân dân Sài Gòn biểu tình đòi quyền tự quyết dân tộc dưới chế độ Mỹ - Diệm. (Ảnh tư liệu )
Với truyền thống được vun bồi xây đắp, với hành trang được tích lũy xây dựng hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, với tinh thần sẵn sàng “chớp thời cơ” được chuẩn bị sẵn, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh khai màn vào ngày 26/4/1975, đội quân chính trị đông đảo của quần chúng nhân dân đồng loạt xung trận.

Lực lượng công nhân với khí thế “dũng cảm tiến lên, đoàn kết lại, phất cao ngọn cờ tiên phong, đánh đổ ngụy quyền, giành chính quyền về tay nhân dân” đã tham gia khởi nghĩa ở khu phố, ở các xí nghiệp, nhà máy, nhất là nhà máy điện, nước, bưu điện, đài phát thanh, đài truyền hình, các kho tàng lớn, không để cho địch phá hoại trước khi chúng rút chạy. Nhờ vậy, mà khi các cánh quân vào đến Thành phố, kẻ địch tháo chạy tán loạn, nhà máy điện vẫn phát sáng, nước vẫn chảy, các cửa hàng, cửa hiệu … vẫn nguyên vẹn.

Lực lượng nông dân dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cánh B Thành ủy (cánh phụ trách địa bàn nông thôn, có nhiệm vụ tham gia giải phóng các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Tân Bình, Thủ Đức và thị xã Gia Định) đã vào cuộc từ những ngày đầu tháng 4, xây dựng hàng trăm cơ sở quần chúng, hàng chục lõm chính trị ở vùng ven. Khi Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, lực lượng nông dân đã phối hợp nhịp nhàng với bộ đội địa phương theo tiến trình tiến quân của các cánh quân chủ lực nổi dậy, giành chính quyền từng địa phương, khu vực. Theo hướng tiến công của Quân đoàn II, Quân đoàn IV, hướng Đông và Đông Bắc trong 2 ngày 29 và 25/4 đã nổi dậy ở khu vực Giồng Ông Tố, Lò Lu (Thủ Đức); đến ngày 29/4 thì đã giành được chính quyền ở tất cả các xã thuộc quận Thủ Đức. Ở hướng Tây Bắc, ngày 28 và 29/4, quần chúng đã nổi dậy giành quyền làm chủ ở các xã của Hóc Môn như Xuân Thới Thượng, Tân Thới Nhì, Tân Thạnh Đông và thị trấn Hóc Môn. Toàn bộ các xã ở Củ Chi nằm trên hướng tiến quân Tây Bắc, trong ngày 29/4 hầu như được giải phóng hoàn toàn (các xã Tân An Hội, Tân Thông Hội, Tân Phú Trung, Phước Hiệp, Phước Thạnh nằm trên quốc lộ 22, hay xã Trung Lập, Phú Hòa Đông, Trung An sát nách căn cứ Đồng Dù đều được giải phóng). Trên hướng tiến quân của Quân đoàn 1, quần chúng đã nổi dậy làm chủ hoàn toàn các xã Tân Thới Hiệp, An Phú Đông, Nhị Bình, An Nhơn, Thông Tây Hội. Theo hướng tiến công của Quân đoàn 3, quần chúng phối hợp với bộ đội địa phương, bức rút đồn bốt, khống chế các mục tiêu, giành chủ quyền ở các xã Phú Thọ Hòa, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Hòa. Ở hướng Tây Nam theo đường tiến quân của Đoàn 232, quần chúng nổi dậy cùng bộ đội địa phương giành chính quyền ở địa bàn nông thôn rộng lớn của xã Tân Tạo, Tân Nhật, Bình Trị Đông, tiến lên giải phóng hoàn toàn huyện Bình Chánh.

Lực lượng trí thức ở Sài Gòn – Gia Định đông về số lượng, “có địa vị xã hội quan trọng trong các tầng lớp nhân dân, có ảnh hưởng đáng kể đối với ngụy quân, ngụy quyền …” , nên trong cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, Thành ủy Sài Gòn – Gia Định có sự quan tâm đặc biệt đến công tác Trí vận. Ban Trí vận đã vận động, tổ chức phong trào đấu tranh chính trị của tầng lớp trí thức, công chức cao cấp, giáo chức, tu sỹ các tôn giáo, các nhà tư sản, văn nghệ sỹ… hòa cùng phong trào đấu tranh chính trị của các giới đồng bào đô thị như Thanh niên, Phụ nữ, Công nhân, … Đồng thời đã có những phong trào đặc trưng của giới trí thức trong Mặt trận nhân dân rộng lớn.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trí thức Sài Gòn – Gia Định theo sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Trí vận đã linh hoạt, nhạy bén tìm cách làm suy yếu hàng ngũ địch, nhất là đối với bộ phận “chop bu” của chính quyền Sài Gòn, tập trung lực lượng đánh đổ ngụy quyền từ bên trên và từ trong ruột đánh ra, góp phần tạo nên “cục diện mới” để kết thúc chiến tranh theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Lực lượng Thành đoàn luôn là “ngòi pháo” trong phong trào đấu tranh chính trị ở đô thành Sài Gòn suốt các thời kỳ của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhất là từ 1965 trở đi. Từ cuối 1974 đầu 1975, Thành Đoàn được giao nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng để tham gia khởi nghĩa trong nội thành. Theo đó, một lực lượng lớn được đưa vào nội thành để khi có thời cơ thì các tổ chức như Tổng hội sinh viên Sài Gòn; Tổng Đoàn học sinh Sài Gòn; Đoàn Văn nghệ học sinh, sinh viên; Đoàn công tác xã hội … vận động hội viên và quần chúng tham gia nổi dậy giành quyền làm chủ ở các khu phố. Trong đó, Thành Đoàn trực tiếp phụ trách nổi dậy ở các khu Bàn Cờ, Vườn Chuối, Cầu Bông, Đa Cao – Tân Định, Phú Nhuận, Khánh Hội – Vĩnh Hội, Tân Phú, Bảy Hiền. Tất cả những điểm khởi nghĩa này đều có tác động hỗ trợ cho việc đánh chiếm các mục tiêu trung tâm như Dinh Độc Lập, Toàn Đại sứ quán Mỹ, Biệt Khu Thu Đô, Bộ Tổng tham mưu… Đồng thời, một số khá đông cán bộ Thành Đoàn được Thành Ủy điều động tăng cường cho các quận 6, 7, 8, 10, Phú Thọ Hòa, Tân Sơn Nhất, Tân Sơn Nhì, Gò Vấp để cùng quần chúng khởi nghĩa giành quyền làm chủ, ứng chiến với các mũi tiến công của quân chủ lực từ các hướng.

Phong trào phụ nữ Sài Gòn – Gia Định đã phát triển mạnh mẽ từ 1965, khi quân Mỹ trực tiếp tham chiến ở miền Nam. Nhiều tổ chức phụ nữ được hình thành như Hội Bảo vệ nhân phẩm và quyền sống, Giáo hội Khất sỹ nữ giới Việt Nam, Đoàn Nữ Phật tử Long Hoa, Hội Nữ Phật tử Việt Nam, Nghiệp đoàn Tiểu thương 36 chợ Đô Thành, Hội các bà mẹ có con ở tù… Phong trào đấu tranh của phụ nữ vừa có tính chất riêng của giới, ngành nghề, vừa phối hợp với các phong trào đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị của các tầng lớp quần chúng Thành phố. Bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Ban Phụ Vận được giao nhiệm vụ áp sát vùng địch, ấp chiến lược để xây dựng cơ sở; may cờ, chuẩn bị lực lượng giao liên, đưa bộ đội vào Thành phố; xây dựng cơ sở nội thành, chuẩn bị tiếp quản Thành phố. Khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng thì các “thê đội” phụ nữa ở các địa bàn đã vào cuộc nhịp nhàng và mưu trí, khôn khéo đưa lại hiệu quả cao. Các bà mẹ Củ Chi đất thép thành đồng đã giương cao ngọn cờ Mặt trận giải phóng dẫn dắt quần chúng nổi dậy “xóa sổ” các cơ quan chính quyền cơ sở địch. Ngày 29/4 ở Gò Vấp, Khu Dệt Bảy Hiền, Phụ nữ đã làm công tác binh vận, cắm cờ khắp khu phố, chợ; treo bảng Ủy ban nhân dân cách mạng khu Bảy Hiền … Sáng 30/4, Phụ nữ cắm cờ, chiếm lĩnh trụ sở Hội đồng xã Thạnh Mỹ Tây. Một bộ phận lớn lãnh đạo Ban Phụ Vận đã vào Thành phố từ trước, trong đó có đồng chí Đỗ Duy Liên, Trưởng Ban, đã lãnh đạo lực lượng nòng cốt kết hợp cùng các giới đồng bào nổi dậy, giành quyền làm chủ ở nhiều nơi, từ các quận của Gia Định đến nội đô Sài Gòn. Hình ảnh chiến sỹ biệt động Nguyễn Trung Kiên hướng dẫn xe tăng vào chiếm lĩnh mục tiêu là một điển hình về biểu tượng oai hùng của Phụ nữ Sài Gòn – Gia Định trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Và chúng ta cũng không bao giờ quên biết bao người nữ công nhân đã kiên trì, dũng cảm bảo vệ cơ sở vật chất của các nhà máy, xí nghiệp được vẹn toàn trong cơn bão táp chiến dịch, tô đậm thêm truyền thống anh hùng của Phụ nữ Sài Gòn – Gia Định …

Sự tham gia của người Hoa vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nói chung, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 nói riêng là nét đặc sắc, phản ánh sự toàn diện về sức mạnh tổng hợp của quần chúng trong phong trào cách mạng đô thị Sài Gòn – Gia Định. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã tổ chức Ban Hoa Vận để vận động người Hoa tích cực tham gia đấu tranh cách mạng. Đặc biệt, ở Nam bộ mà trọng tâm là Sài Gòn – Chợ Lớn, từ thời kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, công tác vận động người Hoa diễn ra thường xuyên, toàn diện, đã dẫn dắt người Hoa vào quỹ đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Thành phố. Bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Ban Thường vụ Thành ủy Sài Gòn – Gia Định giao cho Ban Hoa Vận bố trí lực lượng phát động quần chúng nổi dậy tại 10 vùng trọng điểm thuộc các quận đông người Hoa như quận 5, 11, 6, 10…

Khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, các tổ vũ trang tuyên truyền của Ban Hoa Vận rải truyền đơn, giăng biểu ngữ, phát loa kêu gọi quần chúng nổi dậy giành chính quyền, treo cờ giải phóng ở nhiều cơ sở trường học, Hội quán người Hoa. Sáng 30/4, khi các cánh quân chủ lực tiến công vào nội thành, các tiểu ban khởi nghĩa của Ban Hoa Vận theo sự phân công đồng loạt hành động. Tại Quận 5, từ nổi dậy giành quyền làm chủ ở một số đường phố, phường đã tiến lên bao vây chiếm lĩnh Ty cảnh sát quận 5, Tòa Hành chính quận và Câu lạc bộ sỹ quan, bố trí lực lượng chốt giữ, bảo vệ hệ thống kho tàng dọc bến Hàm Tử, Lê Quang Liêm và tiếp quản Tổng Thương Hội Trung Hoa. Tại Quận 6, lực lượng khởi nghĩa chiếm lĩnh các khóm, tiến đến bao vây Tòa Hành Chính và Ty Cảnh sát Quận 6, phong tỏa các tuyến đường, treo cờ giải phóng trên Tòa nhà Hành chính quận. Đồng thời, bố trí lực lượng tiếp quản chính quyền khóm phường, ổn định trật tự, bảo vệ các kho hàng chợ Bình Tây … Tại Quận 10, Tiểu ban Khởi nghĩa cùng một sỹ quan quân đội Sài Gòn là người Hoa vốn là cơ sở cách mạng đã làm binh biến khống chế, tước vũ khí của lực lượng văn phòng cố vấn quân sự Đài Loan, đồng thời phân công lực lượng treo cờ Mặt trận Giải phóng khắp các chung cư khu vực Ngô Gia Tự; kêu gọi nhân dân nổi dậy chiếm các đồn cảnh sát, văn phòng khóm, tiến chiếm Tòa Hành chính Quận 10. Tại Quận 11, từ sáng 30/4, lực lượng khởi nghĩa đã bao vây, chiếm lĩnh các khóm, phường ở khu vực Cầu Tre, Bình Thới, Phú Thạnh, Phú Hòa, sau đó phối hợp với lực lượng của Thành Đoàn tiến chiếm, quản lý tư liệu, vật chất của Toàn Hành chính và Ty Cảnh sát các quận … Đông đảo đồng bào người Hoa khu vực Chợ Lớn đã hòa cùng nhân dân Thành phố biểu dương lực lượng cách mạng, tích cực tham gia giữ gìn trật tự, trị an, quản lý cuộc sống khu phố những ngày đầu mới được giải phóng.

Công tác binh vận nhằm vận động binh lính địch, lôi kéo họ về phía cách mạng là một mũi tiến công chiến lược nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc, đánh bại kẻ thù xâm lược, đã được Đảng ta xác định và chỉ đạo thực thi trên mọi chiến trường, đặc biệt là chiến trường đô thị Sài Gòn – Gia Định, trung tâm đầu não của địch. Tùy theo tình hình diễn biến của chiến trường, động thái cục diện chiến tranh mà công tác binh vận được tiến hành một cách linh hoạt về phạm vi đối tượng, nội dung và hình thức. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, công tác binh vận, địch vận được tiến hành một cách đa dạng với nhiều mũi đột kích vào những đối tượng có vai trò trực tiếp trong quá trình kết thúc cuộc chiến. Để chuẩn bị bước vào chiến dịch, Ban Binh Vận Trung ương và Ban Binh Vận Sài Gòn – Gia Định khẩn trương chuẩn bị hành động vừa ở các đơn vị, các trường huấn luyện của ngụy quân, vừa tính toán đến lá bài chiến lược vốn đã được chuẩn bị từ rất lâu – đối tượng “chóp bu” chính quyền Sài Gòn.

Ở nông thôn, sự nổi dậy của quần chúng các giới nêu ra trên đây, nhiều nơi có sự góp sức của mũi binh vận. Còn ở đô thị, ở các đơn vị chủ lực, trại huấn luyện, nổi bật là sự kiện sáng 28/4/1975, Thiếu tá Lê Quang Ninh đã phát động binh lính nổi dậy, đưa tiểu đoàn bảo vệ căn cứ Đồng Dù – Sư đoàn 25 về với cách mạng, đã gây hoang mang, làm náo loạn hàng ngũ ngụy quân khu 31 chiến thuật, tạo điều kiện thuận lợi để quân chủ lực của ta tấn công căn cứ Đồng Dù. Chiều 29/4/1975, Đại tá, Chỉ huy Phó Trung tâm huấn luyện Quang Trung ra lệnh tập trung quân vào trại, cất hết vũ khí, vô hiệu hóa các bãi mìn bảo vệ toàn trung tâm, đã “dọn sạch đường” cho quân chủ lực hành tiến qua trung tâm, đánh trại lữ đoàn quân dù Hoàng Hoa Thám. Sáng sớm ngày 30/4/1975, lực lượng nội tuyến của ta ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung tiến hành treo 400 cờ, phát hành Tài liệu về Chính sách 10 điểm cho lính Sài Gòn ở 4 trại Võ Tánh, Chu Văn Tiếp, Lê Lợi, Dương Mộng Hùng, kêu gọi lính rã ngũ, trở về với gia đình. Trung úy Trần Huệ Nhật cơ sở nội tuyến, đảng viên, chỉ huy đại đội bảo vệ Bộ Chỉ huy cảnh sát Gia Định đã cùng cơ sở chiếm giữ Bộ Chỉ huy, làm tan rã bộ máy cảnh sát bên dưới, tạo thuận lợi cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền, khu vực trung tâm tỉnh Gia Định.

Những hành động của Tổng Thống trong ba ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn Dương Văn Minh chịu sự tác động mạnh của các mũi binh vận.
Những sự kiện được nêu ra trên đây dù chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong bức tranh toàn cục cuộc nổi dậy của các tầng lớp, các giới đồng bào Sài Gòn – Gia Định, song đã nói lên sự vào cuộc đúng lúc, sự đóng góp quan trọng, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, làm nên chiến công vang dội của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh. Chỉ trong 2 ngày 29/4 và 30/4 toàn Thành phố Sài Gòn – Gia Định đã có 107 điểm nổi dậy trước khi Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Hầu hết các huyện lị, Ty Cảnh sát các quận và Tòa Hành chính tỉnh Gia Định đã được nhân dân nổi dậy giải phóng, “cờ sao tung bay khắp xóm ấp, phố phường”, đồng bào các giới tràn ngập đường phố hòa cùng các cánh quân chủ lực tiến công vào trung tâm Thành phố, hát vang bài ca “Đại thắng mùa Xuân 1975”.

Dân là gốc

Đánh gía về sự nổi dậy kịp thời, hợp đồng chặt chẽ của nhân dân Thành phố với các cánh quân chủ lực, vị Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã nói: “Đây là cái quý nhất của quần chúng Sài Gòn – Gia Định”. Đúng vậy! Nhân dân Sài Gòn – Gia Định đã hơn một thế kỷ (1859 – 1975) sống vẫy vùng dưới ách thực dân đế quốc với biết bao lao lung, thiên trùng áp bức, khủng bố, chém giết, lừa bịp …, tưởng chừng lòng người mềm nát như tương. Nhưng không! Khí phách của người dân Sài Gòn – Gia Định đã luôn kiên cường, dũng cảm trước mọi phong ba, bão táp, trước nanh vuốt của kẻ thù hung ác. Thời kỳ chủ nghĩa thực dân mới, biết bao tệ nạn tràn ngập xã hội miền Nam, nhất là vùng đô thị bị tạm chiếm, không ít người bị tiêm nhiễm lối sống của chủ nghĩa thực dân. Điều đó ít nhiều tác động đến sự nhìn nhận, đánh giá người Sài Gòn theo nhiều góc độ khác nhau. Truyền thống kiên cường bất khuất, son sắt với cách mạng, đường lối quần chúng, công tác tuyên truyền vận động giáo dục, tổ chức và rèn luyện quần chúng trong đấu tranh cách mạng của Đảng bộ Thành phố, sự “vào trận đúng lúc”, tạo ra khí thế cách mạng tràn ngập đường phố của quần chúng, cho phép đúc rút bài học quý báu về công tác vận động nhân dân tham gia các phong trào cách mạng. Trước hết phải hiểu, phải khơi dậy được và trọng dụng sức dân. Chắc ai cũng biết, Bác Hồ là tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, thương yêu dân, kính trọng dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Người luôn thẩm thấu triết lý phát triển của Việt Nam được các bậc minh quân, triết gia tổng kết “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, “dân là gốc” và Bác đã khẳng định một cách vừa bao quát vừa cụ thể “bao nhiêu lực lượng đều ở nơi dân…, bao nhiêu lợi ích thuộc về dân, bao nhiêu quyền hành đều là của dân”. Đối với nhân dân, tấm lòng của Bác luôn chan chứa tình thương yêu, thân ái. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ cách đây hơn 70 năm, Bác chỉ rõ: “Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng đều dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận ra rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”.

Một góc TP.HCM hôm nay
Trước lúc đi xa, Bác đã “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng, cho tất cả giới đồng bào” và không quên sự quan tâm đến cả những nạn nhân của xã hội thực dân như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, phải giáo dục họ hoàn lương, trở thành người có ích cho xã hội …. Ấy là sự chỉ giáo sâu sắc mà công tác vận động quần chúng nhân dân, kể cả công tác địch vận, binh vận trong thời kỳ kháng chiến của Đảng bộ Sài Gòn – Gia Định luôn luôn được quán triệt sâu sắc, từ đó khơi dậy lòng yêu nước, nhân nghĩa, trách nhiệm của mỗi một người dân đối với Tổ quốc, quê hương, tạo nên sức mạnh tổng hợp của quần chúng trong trận quyết chiến, chiến lược – Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sau ngày giải phóng, bài học về đánh giá, vận động, tổ chức, hướng dẫn quần chúng phát huy vai trò và sức mạnh của mình được Thành phố Hồ Chí Minh vận dụng hết sức sáng suốt.

Chúng ta, nhất là những người còn trẻ tuổi vào những năm đầu sau giải phóng hẳn còn nhớ lời phát biểu đầy tâm huyết và sự tin tưởng ở Tuổi trẻ Thành phố sau ngày giải phóng của Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt, đã thôi thúc, lôi cuốn hàng vạn Thanh niên với vô vàn hoàn cảnh khác nhau gia nhập Thanh niên xung phong Thành phố tỏa về mọi miền xây dựng cuộc sống mới. Rồi Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố qua các nhiệm kỳ đều chủ trương giữ gìn và phát huy cao độ những giá trị văn hóa, con người mang tính đặc trưng của nhân dân Thành phố để tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng Thành phố ngày càng văn minh, hiện đại, nghĩa tình. Đó là bài học về sức dân: “Không có nhân dân Sài Gòn – Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh anh hùng thì Đảng bộ Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh không thể tồn tại và phát triển, không có những thắng lợi to lớn vừa qua và hôm nay”./.

PGS.TS Phan Xuân Biên- Uỷ viên Hội đồng lý luận Trung ương – Phó Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam

12/03/2020

Ninh Bình là một thành phố tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và du lịch của tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.

Thành phố Ninh Bình hiện là đô thị loại II, nằm cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam, tại đầu mối giao thông của 3 tuyến đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, Ninh Bình - Thanh Hóa - Vinh và Ninh Bình - Hải Phòng - Hạ Long. Thành phố này cũng nằm ở vị trí giao điểm của quốc lộ 1A với 2 quốc lộ 10 và Quốc lộ 38B đi qua các tỉnh vùng duyên hải Bắc Bộ. Theo quy hoạch đô thị Ninh Bình,[2] thành phố Ninh Bình đang được xây dựng trở thành một trung tâm dịch vụ, du lịch và là đô thị đầu mối giao thông ở cửa ngõ của miền Bắc.[3][4] Quy hoạch cũng xác định mục tiêu phát triển thành phố Ninh Bình sẽ trở thành thành phố có diện tích gấp 3 hiện nay.[5]

ĐỊA LÝ

Vị trí địa lí Sửa đổi
Thành phố Ninh Bình nằm cách Hà Nội 93 km theo quốc lộ 1A.

Phía Bắc và phía Tây giáp huyện Hoa Lư
Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Yên Khánh
Phía Đông Bắc giáp huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Khoảng cách từ trung tâm thành phố tới 7 huyện lỵ khác của tỉnh Ninh Bình đều dưới 30 km.

Thành phố Ninh Bình có 48,37 km² và 123.130 nhân khẩu, mật độ 3.312 người/km². Tỷ lệ tăng dân số trung bình là 3,6%/năm.

Trên địa bàn thành phố có hai tôn giáo chính: Phật giáo và Thiên Chúa giáo. 10% dân số theo đạo Thiên Chúa.

Sông hồ Sửa đổi
Thành phố Ninh Bình nằm ở hữu ngạn sông Đáy, chính giữa 2 cây cầu nối với Nam Định là ngã ba sông Vân đổ vào sông Đáy. Sông Đáy chảy bên hông có vai trò quan trọng trong việc thoát nước thành phố và tạo mỹ quan đô thị với 2 cầu Non Nước bộ và cầu Ninh Bình bằng thép nối vào trung tâm thành phố. Trên sông có cảng Ninh Phúc và cảng Ninh Bình nối thông ra cửa biển.

Sông Vân nằm bên Quốc lộ 1A và Quốc lộ 10 nối từ sông Vạc vào sông Đáy, chảy xuyên qua và chia thành phố làm 2 phần. Chợ Rồng, sông Vân, núi Thúy là biểu tượng của thành phố Ninh Bình và gắn với lịch sử hình thành của thành phố này. Sông Tràng An là tuyến du lịch đường sông của thành phố, nối từ núi Kỳ Lân qua danh thắng Tràng An tới cố đô Hoa Lư. Sông nằm bên đại lộ Tràng An nối từ thành phố lên chùa Bái Đính. Sông Chanh và sông Sào Khê nối từ sông Hoàng Long chảy qua vùng ngoại thành phía tây thành phố rồi đổ vào sông Vạc. Thành phố Ninh Bình còn có nhiều hồ nước ngọt như hồ Máy Xay, hồ Biển Bạch, hồ Cánh Diều, hồ Lâm Sản, hồ Cá Voi,...

Rìa phía tây thành phố là những ngọn núi thuộc quần thể danh thắng Tràng An. Nội đô thành phố Ninh Bình có địa hình tương đối bằng phẳng, có 4 núi nhỏ nhưng rất nổi tiếng được xem là Tứ đại danh sơn là núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Non Nước, núi Kỳ Lân, núi Lớ.

HÀNH CHÍNH:

Thành phố Ninh Bình có 14 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc gồm 11 phường: Bích Đào, Đông Thành, Nam Bình, Nam Thành, Ninh Khánh, Ninh Phong, Ninh Sơn, Phúc Thành, Tân Thành, Thanh Bình, Vân Giang và 3 xã: Ninh Nhất, Ninh Phúc, Ninh Tiến.

Hạ tầng giao thông

Nằm ở vị trí cửa ngõ phía nam miền Bắc, thành phố Ninh Bình đồng thời là một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống đường thủy, đường bộ và đường sắt phát triển:
Về đường bộ, thành phố Ninh Bình là đầu mối của các dự án đường cao tốc Việt Nam:

Dự án đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình và Dự án đường cao tốc Ninh Bình - Thanh Hóa;

Dự án đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh

Thành phố còn là điểm tụ của 3 Quốc lộ sau:

Quốc lộ 1A xuyên Việt qua địa bàn Ninh Bình dài 40 km.

Quốc lộ 10 từ Quảng Ninh qua các tỉnh thành Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định tới Thanh Hóa.

Quốc lộ 38B từ thành phố Hải Dương đến huyện Nho Quan.

Có 2 tuyến Quốc lộ nữa trên địa bàn thành phố là đường nối cảng Ninh Phúc (đường Trần Nhân Tông) và đường Quốc lộ 1A mới (đường Nguyễn Minh Không). Ga Ninh Bình và bến xe khách Ninh Bình đều nằm ở phường Thanh Bình thuộc trung tâm thành phố.
Về giao thông thuỷ, thành phố có cảng Ninh Phúc hiện là cảng sông có quy mô lớn ở miền Bắc đồng thời là một trong những cảng nội địa lớn nhất Việt Nam. Cảng đảm bảo nhận tàu cỡ 3000 DWT cập bến, công suất đạt 2,5 triệu tấn/năm. Cảng nằm dọc bờ hữu sông Đáy thuộc các xã Ninh Phúc (thành phố Ninh Bình) và Khánh Phú, Khánh Hòa (Yên Khánh, Ninh Bình). Cảng Ninh Phúc nằm ở bờ trái sông Đáy, đảm bảo công tác vận tải đường thủy các tuyến giao thông đường thủy Cửa Đáy - Ninh Bình, Ninh Bình - Hà Nội, Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh, Ninh Bình - Thanh Hóa.
Gần Cảng Ninh Phúc là cảng Ninh Bình có công suất đạt 1,6 triệu tấn/năm, đảm bảo cho tàu biển trên 3.000 DWT và 1.000 DWT ra vào thuận lợi. 2 cảng sông này đều nằm trong danh sách cảng sông được ưu tiên đầu tư xây dựng.

LỊCH SỬ VĂN HÓA

Thành phố Ninh Bình cũng được gọi với mỹ danh là thành phố ngã ba. Thành phố ngã ba sông với các ngã ba tạo ra từ 3 sông Hoàng Long, sông Vân, sông Sắt đổ vào sông Đáy. Thành phố ngã ba giao thông với hệ thống 3 Quốc lộ 1A, quốc lộ 10, quốc lộ 38B và 3 tuyến cao tốc có điểm nút tại đây. Thành phố ngã ba khu vực bởi Ninh Bình nằm giáp với 3 khu vực kinh tế: vùng duyên hải Bắc Bộ - vùng Hà Nội – duyên hải miền Trung và 3 khu vực địa lý – văn hóa: Tây Bắc – Châu thổ sông Hồng – Bắc Trung Bộ.

Thành phố Ninh Bình được hình thành ở cửa nước ngã ba sông, nơi hợp lưu của sông Vân vào sông Đáy. Từ xa xưa, khu vực quần thể di sản thế giới Tràng An ở phía tây thành phố đã là nơi cư trú của người tiền sử thuộc nền văn hóa Tràng An thời kỳ đồ đá.

Thế kỷ X, người Tràng An đã đưa vùng đất này thăng hoa trở thành kinh đô Hoa Lư của nước Việt.

Thế kỷ 15, đời Hồng Đức, nhà Hậu Lê, nơi đây lại trở thành thủ phủ của trấn Sơn Nam với việc trấn lỵ được đóng tại Vân Sàng, tức vùng đất gần chợ Rồng bây giờ. Xứ Sơn Nam rộng lớn khi ấy gồm 11 phủ, 42 huyện[7], thuộc các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên và Ninh Bình ngày nay.

Từ xa xưa, ngã ba sông Vân hợp vào sông Đáy đã hình thành những chợ Cá và bến Nứa. Cùng với ưu thế giao thông thuận lợi do vị trí án ngữ giao điểm của những trục đường chính, các chợ Cá này đã phát triển thành một trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá lớn ở phía nam vùng châu thổ sông Hồng.[8]. Nét văn hoá thành phố chịu ảnh hưởng từ nền văn minh châu thổ sông Hồng. Vị trí địa lý của vùng đất giáp với 3 vùng miền cũng ảnh hưởng đến đặc trưng văn hóa của thành phố, đó là nền văn hóa hợp lưu, hội tụ từ các vùng.

Năm 1873, Pháp chiếm Ninh Bình, nơi đây được xây dựng trở thành một đô thị ở vùng cửa ngõ miền Bắc với nhiều công trình kiến trúc như thành Ninh Bình, cầu Lim, phố Nhà thờ, chợ Rồng. Sau này, người dân ủng hộ chiến dịch "vườn không nhà trống" nên đã phá bỏ nhiều công trình đô thị đó. Chính vì thế mà thành phố Ninh Bình hiện là thành phố trẻ, có cảnh quan mang dáng dấp một đô thị mới.

Năm 1945, Ninh Bình là một thị trấn với diện tích 2,5 km² dân số 5.000 người.

Năm 1977, là thị trấn thuộc huyện Hoa Lư.[9]

Năm 1981, tái lập thị xã Ninh Bình từ huyện Hoa Lư,[10] gồm 4 phường: Đinh Tiên Hoàng, Lương Văn Tụy, Quang Trung, Vân Giang.

Năm 1982, chuyển xã Ninh Thành của huyện Hoa Lư vào thị xã Ninh Bình.[11]

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tái lập tỉnh Ninh Bình từ tỉnh Hà Nam Ninh, thị xã Ninh Bình trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Ninh Bình.[12]

Ngày 2 tháng 11 năm 1996, thị xã tiếp tục được mở rộng với dân số là 62.187 người, diện tích 11,6 km²:

29,97 ha diện tích tự nhiên và 855 nhân khẩu của xã Ninh Khánh
44,87 ha diện tích tự nhiên và 1.207 nhân khẩu của xã Ninh Tiến
29,60 ha diện tích tự nhiên và 498 nhân khẩu của xã Ninh Phong
102,35 ha diện tích tự nhiên và 2.290 nhân khẩu của xã Ninh Sơn
27,30 ha diện tích tự nhiên và 1.610 nhân khẩu của xã Ninh Phúc thuộc huyện Hoa Lư
Thành lập 7 phường: Tân Thành, Đông Thành, Nam Thành, Phúc Thành, Nam Bình, Bích Đào, Thanh Bình trên cơ sở giải thể 3 phường Đinh Tiên Hoàng, Lương Văn Tụy, Quang Trung và xã Ninh Thành).[13]
Ngày 9 tháng 1 năm 2004, thị xã Ninh Bình có diện tích 4.674,8 ha, dân số 102.539 người (do sáp nhập 6 xã: Ninh Khánh, Ninh Nhất, Ninh Tiến, Ninh Phong, Ninh Sơn, Ninh Phúc thuộc huyện Hoa Lư)[14].

Ngày 28 tháng 4 năm 2005, chuyển 2 xã Ninh Phong, Ninh Khánh thành 2 phường có tên tương ứng[15].

Ngày 2 tháng 12 năm 2005, thị xã Ninh Bình được công nhận là đô thị loại III.[16]

Ngày 7 tháng 2 năm 2007, khi thị xã Ninh Bình trở thành thành phố Ninh Bình, thành phố Ninh Bình có 4.836,49 ha diện tích tự nhiên và 130.517 người.

Ngày 3 tháng 12 năm 2007, chuyển xã Ninh Sơn thành phường Ninh Sơn.

Ngày 20 tháng 5 năm 2014, thành phố Ninh Bình chính thức trở thành đô thị loại II.[17]

Vùng đất này gắn với nhiều huyền thoại. Sông Vân còn gọi là Vân Sàng, gắn với truyền thuyết về Lê Hoàn khi thắng Tống trở về, Dương Vân Nga đã đem một đoàn cung nữ ra đón và mở tiệc giao hoan với nhà vua ở trên dòng sông.[18] Cái tên Vân Sàng (giường mây) đã ra đời từ đó. Ngày nay, tên tuổi của hai danh nhân được đặt cho hai đường phố ven sông này. Ở cửa ngõ phía đông thành phố Ninh Bình có núi Non Nước, về đời Trần, Trương Hán Siêu thường lên chơi núi này, mới đổi thành Dục Thúy Sơn. Đây là một thắng cảnh, xưa gần cửa biển, có sông Vân, sông Đáy uốn quanh, là cảnh đẹp nên thơ, rất hữu tình. Núi Thuý còn là đề tài của các thi nhân xưa và nay gắn với lịch sử hình thành vùng đất Ninh Bình, núi Thúy -sông Vân trở thành hình ảnh biểu tượng độc đáo đặc trưng của thành phố Ninh Bình.

KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ

Kiến trúcSửa đổi

Trung tâm hình học của thành phố ở ngã 3 giao lộ giữa quốc lộ 1A và quốc lộ 10 với hai phường Thanh Bình và Vân Giang được hình thành khá sớm bên sông Vân. Từ vị trí này thành phố phát triển đô thị theo các hướng:

Phía đông bắc thành phố (thuộc phường Đông Thành, Ninh Khánh) chủ yếu là các khu trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, thể thao, dịch vụ của thành phố và của tỉnh. Đây cũng là khu đô thị hóa sớm của thành phố. Hiện đang hình thành khu dịch vụ ven sông Đáy.

Phía tây thành phố (phường Nam Thành, Phúc Thành) là các khu dân dụng, trường học, đại học Hoa Lư, 6 bệnh viện tuyến tỉnh như Bệnh viện đa khoa Ninh Bình và Bệnh viện Quân y 5, sân vận động Ninh Bình và khu dân cư.

Phía tây bắc thành phố hiện đang phát triển xây dựng các khu đô thị Xuân Thành, Tân An, công viên văn hóa Tràng An, các khu nhà vườn, hạ tầng dịch vụ du lịch.

Phần biên phía tây của thành phố là dãy núi Tràng An với quần thể danh thắng Tràng An đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thiên nhiên thế giới, là khu du lịch lớn của Ninh Bình.

Phía nam chiếm diện tích lớn là đất nông nghiệp của làng rau sạch Ninh Sơn, làng hoa Ninh Phúc.

Phía đông nam thành phố là cảng Ninh Phúc và các khu công nghiệp Khánh Phú, khu công nghiệp Phúc Sơn.

Đường phố

Đường giao thông đô thị ở thành phố Ninh Bình được đặt tên gọi là đường hoặc phố. Những tuyến giao thông nhỏ, ngắn của thành phố được gọi là phố, ví dụ như phố Vạn Thắng, phố Bắc Thành, phố 7, phố Ngọc Xuân, phố Chiến Thắng, phố ẩm thực, phố Phong Sơn, phố Bạch Đằng…
Phần lớn tên đường ở Ninh Bình được đặt theo tên danh nhân, một số đường đặt tên địa danh văn hóa như: Vân Giang, Tràng An, Nam Thành, Phúc Thành, Tây Thành, Xuân Thành, Kênh Đô Thiên; một số đường đặt tên sự kiện như đường 30 tháng 6, Đông Phương Hồng, Chiến Thắng, Thành Công.
Các đường phố lớn của thành phố Ninh Bình là đại lộ Đinh Tiên Hoàng, đường 30/6, Lê Đại Hành, Tràng An, Nguyễn Minh Không, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Công Trứ. Trục đường đại lộ Đinh Tiên Hoàng và đường Vạn Hạnh được quy hoạch là trục cảnh quan chính của thành phố.
Đường Đinh Tiên Hoàng đi qua trục trung tâm thành phố, một phần phía nam của nó cùng với các đường Lương Văn Thăng, Lê Đại Hành và đường Nguyễn Công Trứ thực chất là Quốc lộ 10 hướng về vùng đất mở Kim Sơn; Đường Lương Văn Thăng còn là quốc lộ 38B đoạn qua trung tâm thành phố.
Đường Tràng An dẫn vào cố đô Hoa Lư; đường Trần Hưng Đạo, đường 30 tháng 6 và đường Nguyễn Huệ là đoạn Quốc lộ 1A; có hai đường vành đai của thành phố là Nguyễn Minh Không và Trần Nhân Tông đều được nâng cấp thành Quốc lộ.
Với vị trí nằm gần các tuyến điểm du lịch, giao thông tương đối thuận tiện đồng thời việc hình thành nhiều công trình du lịch và khu dịch vụ mới, thành phố Ninh Bình mang đặc trưng của một thành phố du lịch.
Đường Đào Duy Từ được thành phố Ninh Bình xây dựng thành tuyến phố đi bộ cùng với điểm du lịch chợ đêm Đông Thành. Vị trí này là khu vực trung tâm thành phố giáp với đường Tràng An, nhà Thi đấu, núi Kỳ Lân, các nhà hàng khách sạn lớn ở Ninh Bình. Phố đi bộ đã tạo nên không gian du lịch như khu vui chơi, khu ẩm thực, khu nhạc nước, tổ chức các sự kiện văn hóa nghệ thuật như: ca nhạc đường phố, lễ hội âm nhạc, chèo, xẩm.[19]

KINH TẾ

Năm 2013 tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố đạt 1200 tỷ đồng. Cân đối thu chi ngân sách là cân đối dư. Thu nhập bình quân đầu người đạt 59,1 triệu/năm. Mức tăng trưởng kinh tế trung bình giai đoạn 2010 - 2012 đạt 17,66%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo là 0,79%. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội những năm tiếp theo chỉ rõ: thành phố tập trung cao cho công tác quản lý đô thị, triển khai thực hiện quy hoạch điều chỉnh thành phố đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, phấn đấu đạt đô thị loại I và thành phố du lịch trước năm 2025, tạo ấn tượng tốt đẹp của du khách khi về tham quan thành phố Ninh Bình.[20]

Thương mại, du lịch Sửa đổi
Trong quy hoạch phát triển kinh tế vùng duyên hải Bắc Bộ, thành phố Ninh Bình là một đầu mối ở phía nam của vùng. Thành phố phát triển mạnh các dịch vụ lưu trú, điều hành, khách tham quan phối hợp với các khu du lịch lớn ở khu vực.

Ninh Bình cũng là đô thị giàu tiềm năng du lịch văn hoá, giải trí, ẩm thực, hội nghị và thể thao… Nhà thi đấu thể thao tỉnh và sân vận động Ninh Bình thường diễn ra những sự kiện của tỉnh và khu vực.

Thành phố Ninh Bình được chính phủ chọn là nơi đặt trụ sở của Cục Hải quan Hà Nam Ninh, là cơ quan quản lý nhà nước liên vùng, có địa bàn kiểm soát trên phạm vi 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Một cơ quan liên vùng khác đóng trên địa bàn thành phố là Phòng Quản lý xuất nhập khẩu khu vực Ninh Bình thuộc Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp khi làm thủ tục xuất, nhập khẩu trên địa bàn Ninh Bình và các tỉnh khu vực Hà Nam Ninh.

Công nghiệp Sửa đổi
Nằm ở vị trí thuận lợi về giao thông đường thuỷ, đường sắt và đường bộ. Thành phố Ninh Bình có đủ điều kiện để phát triển công nghiệp lâu dài. Hiện thành phố có 2 khu công nghiệp là khu công nghiệp Ninh Phúc - Khánh Phú và khu công nghiệp Phúc Sơn.

Khu công nghiệp Khánh Phú nằm giáp đông nam thành phố và huyện Yên Khánh. Tổng diện tích đất phát triển 334 ha, trong đó đất xây dựng nhà máy là 231,54ha. Các loại hình sản xuất chủ yếu: Nhà máy đạm Ninh Bình công suất 56 vạn tấn/năm, than (sàng tuyển) 300,000/năm; Bốc hàng hoá 1,1 tr tấn/năm; Đóng, sửa chữa tàu thuyền.
Khu công nghiệp Phúc Sơn nằm ở phía nam thành phố. Tổng diện tích 145ha, là khu công nghiệp sạch với sản phẩm may mặc, lắp ráp điện tử, dụng cụ đo lường và sản xuất phần mềm.
Thành phố Ninh Bình còn có 02 cụm công nghiệp Ninh Phong và Cầu Yên với tổng diện tích 62,3 héc-ta với tổng số vốn đăng ký đầu tư 880 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy 71%.

Một số doanh nghiệp và nhà máy công nghiệp đem lại nguồn thu lớn là Tập đoàn Xuân Thành Ninh Bình, Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường, Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Ninh Bình, Doanh nghiệp tư nhân Nam Phương, Công ty TNHH Hoàng Hà, Tập đoàn công nghiệp Quang Trung, Nhà máy nhiệt điện Ninh Bình và nhà máy đạm Ninh Bình.

Nông nghiệp Sửa đổi
Đất nông nghiệp Ninh Bình chủ yếu phục vụ cho quá trình đô thị hoá thành phố. Ngoài ra, các vùng sản xuất chuyên canh hàng hoá được quy hoạch như vùng rau sạch Ninh Sơn, làng hoa Ninh Phúc. Thành phố cũng phát triển mạnh nghề thủ công truyền thống ở các xã ven đô như: nghề mộc Phúc Lộc, trồng cây cảnh và đá mỹ nghệ,...

Di tích, danh thắng

Biểu tượng du lịch của thành phố Ninh Bình là hình ảnh "chợ Rồng, sông Vân, núi Thuý". Thành phố có định hướng phát triển trở thành một trung tâm du lịch lớn trong tam giác du lịch Hà Nội - Ninh Bình - Quảng Ninh của miền Bắc. Những năm gần đây nhiều khu vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng được xây dựng để phát triển loại hình du lịch lưu trú, hội thảo và mua sắm.

Di tích, danh thắng Sửa đổi

Khu du lịch Tràng An

Núi Kỳ Lân trên sông Tràng An

Bảo tàng tỉnh Ninh Bình
Thành phố Ninh Bình có nhiều danh thắng và di tích nổi tiếng như khu di tích núi Non Nước; danh thắng núi Kỳ Lân, công viên văn hóa Tràng An; hay khu du lịch hang động Tràng An được coi là điểm nhấn để phát triển du lịch Ninh Bình.

Núi Non Nước là một ngọn núi nằm ngay trên ngã ba sông Vân với sông Đáy, là một tiền đồn nằm ở cửa ngõ phía đông thành phố Ninh Bình. Lối lên đỉnh Non Nước qua 72 bậc gạch đá. Đỉnh núi tương đối bằng phẳng, có lầu đón gió để nghỉ. Trên núi có hàng trăm bài thơ của các tao nhân mặc khách. Bên núi có chùa Non Nước và có đền thờ danh sĩ Trương Hán Siêu đời Trần. Bảo tàng Ninh Bình nằm ở phía nam công viên Thúy Sơn[21], là nơi tham quan tìm hiểu biết lịch sử dựng nước và giữ nước của tỉnh Ninh Bình.
Núi Kỳ Lân nằm ở vị trí trung tâm thành phố Ninh Bình thuộc địa phận phường Tân Thành, cạnh quốc lộ 1A và đường tới các khu du lịch Hoa Lư - Tràng An. Núi tên là Kỳ Lân vì có hình tượng đầu con lân nhìn về phía Bắc. Núi cao trên 50 m và là một vọng gác có thể quan sát cảnh quan đô thị thành phố Ninh Bình
Núi Ngọc Mỹ Nhân là ngọn núi đứng từ đằng xa có hình cô gái đẹp nằm giữa thanh thiên trời đất, xưa còn gọi là núi Cánh Diều vì gắn với truyền thuyết Cao Biền cưỡi diều đi dò phá long mạch nước Nam bị một đạo sĩ do thần Thiên Tôn hóa thân dùng tên bắn, diều gãy cánh rơi xuống hòn núi này.
Hồ Máy Xay nằm ở gần chợ Rồng và công viên núi Thúy, đường Võ Thị Sáu ven bờ hồ là một trung tâm ẩm thực lớn của thành phố, tại đây có nhà máy bia Ninh Bình.
Hồ Biển Bạch là một hồ nước nằm bên Quốc lộ 1A, hiện đang được cải tạo thành khu vui chơi giải trí.
Các di tích khác: 2 ngôi chùa được xếp hạng di tích quốc gia là chùa Đẩu Long thuộc phường Tân Thành, chùa A Nậu thuộc phường Ninh Khánh, là ngôi chùa cổ do vua Trần Thái Tông sáng lập khi ông về ẩn náu tại hành cung Vũ Lâm. Đây cũng là di tích văn hóa thu hút nhiều nhà khảo cổ học đến sưu tầm và nghiên cứu[22]
Công trình kiến trúc Sửa đổi
Bảo tàng Ninh Bình được khánh thành vào ngày 1/9/1995 với 1200m2 sử dụng, có hệ thống trưng bày 3 phần chính: lịch sử thiên nhiên, lịch sử Ninh Bình trước cách mạng tháng Tám và lịch sử Ninh Bình sau cách mạng tháng Tám.
Chợ Rồng Ninh Bình là chợ cấp 1 quốc gia, nằm ở bên sông Vân, là chợ lớn nhất Ninh Bình.
Quảng trường Đinh Tiên Hoàng Đế đế là công trình kiến trúc công cộng hiện đại ở trung tâm thành phố.
Nhà thờ họ Trương Việt Nam là nơi thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, thánh Tam Giang và các danh nhân tiêu biểu họ Trương như Trương Hán Siêu, Trương Ma Ni, Trương Định,...
Nhà thi đấu Ninh Bình là nơi diễn ra nhiều giải đấu lớn như Bóng chuyền, vật, võ,... là sân nhà của câu lạc bộ bóng chuyền Tràng An Ninh Bình, tại đây hàng năm diễn ra giải bóng chuyền cúp Hoa Lư của các đội bóng chuyền mạnh Việt Nam.
Hệ thống siêu thị: Siêu thị Big C Ninh Bình, Siêu thị Tâm Hằng, Siêu Thị Đông Nam Á; Siêu Thị Hapro Mart Ninh Bình; Siêu Thị VinMart Ninh Bình; Siêu thị Kiên Anh; Siêu thị Đông Thành,...
Hệ thống công viên: Công viên văn hóa Tràng An, công viên Thúy Sơn, công viên sông Vân, công viên Đông Thành,...
Các công trình kiến trúc khác: Cầu Ninh Bình, Cầu Non Nước, Cảng Ninh Phúc, Ga Ninh Bình, Sân vận động Ninh Bình, nhà hát Chèo Ninh Bình, đền Vân Thị,...
Làng nghề Sửa đổi
Làng hoa Ninh Phúc nằm ở phía nam thành phố, là nơi cung cấp các loài hoa tươi cho thị trường khu vực Nam Bắc Bộ. Những loài hoa áp đảo về số lượng ở Ninh Phúc là các giống hoa ly, cúc, dơn, hồng. Nhiều loài hoa khác cũng có mặt ở làng hoa Ninh Phúc như: huệ, violet, lan, tulip, đồng tiền, cẩm tú,...
Làng nghề trồng rau sạch Ninh Sơn với mô hình trồng rau an toàn từ diện tích 21 ha được nhân rộng ra toàn vùng đất màu. Ngoài các loại rau chủ yếu như rau muống, xà lách, cải thảo, cà tím rau thơm, một số loại rau củ cho hiệu quả kinh tế cao như su hào, tỏi... cũng được đưa vào trồng. Các hộ gia đình còn trồng hoa, cây cảnh, trồng đào, quất phục vụ thị trường.
Làng mộc Phúc Lộc nằm ở phía đông nam thành phố Ninh Bình. Làng có 5 xóm: Xóm Trại, Xóm Ngoài, Xóm Giữa, xóm Trong và xóm Mơ. Làng nghề mộc Phúc Lộc hiện có tới 400 người làm nghề sản xuất đồ mộc và khoảng 200 người lao động phụ. Sản phẩm làng nghề Phúc Lộc đa dạng các loại đồ gỗ cao cấp, cầu kỳ, sang trọng như: tủ chè, sập gụ, sập lim, tạc tượng, chạm trổ hoa văn các loại…
Ẩm thực Sửa đổi
Thành phố Ninh Bình là nơi hội tụ, phát triển mạnh các đặc sản Ninh Bình, tiêu biểu là loại hình ẩm thực phố đi bộ, phố đêm với các đặc sản đặc trưng như cơm cháy Ninh Bình, các đặc sản từ thịt dê, rượu Kim Sơn, dứa Đồng Giao, bún mọc, miến lươn, gỏi nhệch,...

4 câu thơ khi nhắc tới du lịch thành phố Ninh Bình:

Rượu ngon cơm cháy thịt dê
Ninh Bình chào đón khách về tham quan
Đẹp thay non nước Tràng An
Hạ Long trên cạn, đại ngàn Cúc Phương
Kết nối du lịch Sửa đổi
Ngoài vị trí hội tụ giao thông, Thành phố Ninh Bình còn có lợi thế nằm ở vị trí gần các khu, tuyến, cụm điểm du lịch:

Trong bán kính 15 km có các khu du lịch Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, Cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, Vân Long và một số điểm du lịch như đền thờ Đinh Bộ Lĩnh, đền thờ thánh Nguyễn, chùa Địch Lộng, phủ Dầy,...
Trong bán kính 30 km có các khu du lịch nhà thờ Phát Diệm, đền Trần, suối nước nóng Kênh Gà, động Vân Trình, hồ Đồng Thái, phòng tuyến Tam Điệp... và các điểm du lịch động Mã Tiên, hồ Đồng Chương, sông Hoàng Long...
Trong bán kính 50 km có các khu du lịch ven biển Kim Sơn, cồn Nổi,vườn quốc gia Cúc Phương, khu dự trữ sinh quyển thế giới biển Kim Sơn, thành nhà Hồ, chùa Hương...

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Ninh Bình?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


Số 33, Đường Lê Đại Hành, Vân Gia
Ninh Bình
08000