Lão Bộc - Hảo Nghĩa Tử

Lão Bộc - Hảo Nghĩa Tử

Share

Admin website LaoBoc.Com

Phương Ấy - Lão Bộc - Quét Lá Đa 07/05/2023

"...Cái ánh nắng của buổi chiều xưa ấy
Cứ ngọt ngào như một mũi tên bay
Cứ lấp loáng cho đời ta còn thấy
Chỗ đầu cầu xám ngắt buổi chia tay...." Thơ của Bố

Ko biết có còn ai nhớ đến mình ko nhỉ...

Phương Ấy - Lão Bộc - Quét Lá Đa Cái ánh nắng của buổi chiều xưa ấy. Cứ ngọt ngào như một mũi tên bay. Cứ lấp loáng cho đời ta còn thấy. Chỗ đầu cầu xám ngắt buổi chia tay.

Bà Nguyễn Thị Lộ có thực là chủ mưu trong vụ đại án Lệ Chi viên? | Lão Bộc - Quét Lá Đa 22/08/2021

BÀ NGUYỄN THỊ LỘ CÓ THỰC LÀ CHỦ MƯU TRONG VỤ ÁN LỆ CHI VIÊN?

Bà Nguyễn Thị Lộ là một danh sĩ có tiếng, là một trong số các ái thiếp của đại công thần nhà Hậu Lê, Danh nhân Văn hóa Thế giới Nguyễn Trãi. Cho đến nay, trải qua gần 600 năm kể từ ngày xảy ra vụ đại án Lệ Chi viên, dù vua Lê Thánh tông sau đó đã minh oan cho Nguyễn Trãi qua câu nói “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” thì bà Nguyễn Thị Lộ vẫn bị coi là nhân vật chủ mưu của vụ án. Lật lại các nguồn chính sử thì đại loại đều chép rằng: “Hôm ấy vua thức suốt đêm rồi băng”. Vậy sự việc quả thật như thế, hay còn có điều gì mờ ám đằng sau câu chuyện bi thảm này.

Trở lại bối cảnh của vụ án Lệ Chi viên năm xưa dưới triều Lê Thái tông – vị hoàng đế thứ hai của nhà nước Hậu Lê. Bấy giờ muôn dân nước Đại Việt vừa trải qua hơn 10 năm độc lập kể từ ngày vua cha, tức Thái tổ Lê Lợi cùng anh hùng hào kiệt đứng lên đánh đuổi quân thù xâm lược Đại Minh; nên nhìn chung, toàn cõi đất nước đang trong thời kỳ thái bình, thịnh trị.

Tháng Bảy âm lịch năm Nhâm Tuất (1442), nhà vua đi tuần ở miền Đông, duyệt quân tại thành Chí Linh tỉnh Hải Dương. Trên đường trở về kinh, vua Thái tông ghé thăm nơi ở của danh thần Nguyễn Trãi bấy giờ đang cáo quan ở ẩn tại chùa Côn Sơn, Bắc Ninh. Theo hầu nhà vua có bà Nguyễn Thị Lộ, một ái thiếp của Nguyễn Trãi được vua Thái tông yêu quý trước đó vì tài sắc mà ban chức Lễ nghi học sĩ phụng sự dạy dỗ các cung nhân trong triều. Đêm hôm ấy tại Lệ Chi viên (vườn Lệ Chi), vua Lê Thái tông đột ngột qua đời khi mới 19 tuổi. Sự kiện này, sách Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: “Khi về đến Lệ Chi viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi mất.” Ngay sau đó triều đình đã quy bà Nguyễn Thị Lộ là thủ phạm giết vua và khép tội gia đình Nguyễn Trãi phải chịu án Tru di Tam tộc.

Bà Nguyễn Thị Lộ sinh vào khoảng những năm 1390 – 1400 cuối thời nhà Trần trong một gia đình có cha làm nghề thầy thuốc. Vốn tư chất thông minh cùng việc xuất thân trong gia đình nề nếp nên bà sớm tỏ ra là con người tinh thông, tài sắc vẹn toàn. Có tài liệu nói rằng bà gặp và trở thành vợ Nguyễn Trãi ở thời nhà Hồ ( 1402 – 1407) và lúc xảy ra vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 thì bà Nguyễn Thị Lộ đã ngoài 40 tuổi.

Vua Lê Thái tông trước lúc lâm chung tuy còn trẻ nhưng đã kịp có bốn người con trai do mỗi bà vợ khác nhau sinh ra. Trong đó người con trai trưởng lúc đầu được lập làm Thái tử nhưng sau vì mẹ bị thất sủng nên ngôi Thái tử cũng bị phế truất theo; người con trai thứ Ba thì cả mẹ và con đều không được nhà vua sủng ái. Như vậy ngôi Thái tử bây giờ là việc lựa chọn ai giữa hai người con còn lại, hoặc là người thứ Hai do bà Nguyễn Thị Anh sinh ra hoặc là người con thứ Tư con của bà Ngô Thị Ngọc Dao…

Đánh giá về vụ án Lệ Chi viên thì các nhà nghiên cứu gần đây nêu quan điểm rằng người con thứ Hai đang nói ở trên tức là Lê Bang Cơ không phải con của vua Thái tông mà là con của bà Nguyễn Thị Anh đã có mang với người khác ngay trước khi bà được đưa về làm vợ vua Lê Thái tông. Sau khi bà Nguyễn Thị Anh sinh ra Bang Cơ thì bà Ngọc Dao cũng sinh ra người con thứ Tư nói trên tức Lê Tư Thành. Mặc dù hoàng tử Bang Cơ đã được phong làm thái tử nhưng vì hoàng tử Tư Thành từ lúc mới sinh được nhiều người khen ngợi khôi ngô, tuấn tú mang phong thái của một bậc đế vương; cùng với việc thân phận “bất minh”, sợ bị đàm tiếu dẫn đến phế ngôi nên bà Nguyễn Thị Anh đã ra tay trước bằng cách sai người hạ độc vua rồi vu oan gia đình Nguyễn Trãi. Vậy tại sao lại là gia đình Nguyễn Trãi? Ấy bởi vì bà Ngọc Dao trước vì làm mất lòng vua nên cả hai mẹ con phải dời ra ngoài kinh thành sống nương nhờ gia đình Nguyễn Trãi. Ông Nguyễn Trãi bấy giờ không còn nắm giữ vai trò quan trọng trong triều đình nữa vì bất mãn với một nhóm quyền thần mà cáo quan ở ẩn. Bà Nguyễn Thị Anh lo sợ việc vua Thái tông khi gặp Nguyễn Trãi thì sẽ bị bất lợi về phía mình nên tìm cách hãm hại. Khi vụ án Lệ Chi viên xảy ra thì cả hai hoàng tử Bang Cơ và Tư Thành cũng chỉ vừa 1 – 2 tuổi. Lê Bang Cơ được đưa lên nối ngôi với niên hiệu Nhân tông, giữ ngôi được 17 năm thì cả hai mẹ con bị Thái tử mất ngôi trước đó là Lê Nghi Dân nửa đêm trèo tường vào cung sát hại vì cho rằng Nhân tông không mang dòng máu của vua Thái tông. Lê Nghi Dân “làm phản” chưa tròn một năm thì bị hạ bệ bởi những cựu thần một thời từng là anh hùng kháng chiến bên cạnh Thái tổ Lê Lợi như là Đinh Liệt, là Nguyễn Xí… rồi lập hoàng tử Lê Tư Thành, cậu bé năm xưa phải lay lắt sống nhờ gia đình Nguyễn Trãi, lên ngôi vua với niên hiệu Lê Thánh tông (còn gọi Lê Thánh Tôn), đưa đất nước Đại Việt bước lên một tầm vóc mới và cũng chính ông là người minh oan cho Nguyễn Trãi qua câu nói nổi tiếng “Ức trai tâm thượng quang khuê tảo.”

Vụ thảm án Lệ Chi viên mang quá nhiều đau đớn, là nỗi đau không riêng gì gia đình đại công thần Nguyễn Trãi mà còn là nỗi đau của cả những ai yêu quý sự chân thiện. Lời minh oan của Lê Thánh tông dẫu muộn màng nhưng dù sao cũng an ủi được phần nào oan hồn của ba họ nhà Nguyễn Trãi. Điều mà ngày nay chúng ta cần ấy là một góc nhìn mới công bằng hơn dành cho Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, người vẫn bị coi là chủ mưu của vụ đại án Lệ Chi viên gần 600 năm nay…

Xin cảm ơn các Anh/chị và các bạn đã theo dõi!

Bà Nguyễn Thị Lộ có thực là chủ mưu trong vụ đại án Lệ Chi viên? | Lão Bộc - Quét Lá Đa Bà Nguyễn Thị Lộ là một danh sĩ có tiếng, là một trong số các ái thiếp của đại công thần nhà Hậu Lê, Danh nhân Văn hóa Thế giới Nguyễn Trãi

Chuyện về Thái tông Lê Nguyên Long - Vị vua kế nghiệp Thái tổ Lê Lợi | Lão Bộc - Quét Lá Đa 25/07/2021

Cũng khá lâu rồi mình không có bài nào mới về Lịch sử Việt Nam.
Đây là bài viết mới nhất vừa được hoàn thành. Cô bác anh chị em quan tâm thì click vào đường dẫn để xem toàn bộ nội dung nhé!
- - -
Chuyện về Thái tông Lê Nguyên Long – Vị vua kế nghiệp Thái tổ Lê Lợi.

Nhà nước Hậu Lê được thành lập bằng việc Lê Lợi tuyên bố chiến thắng, giành lại toàn quyền kiểm soát đất nước Đại Việt sau hơn 20 năm chìm sâu dưới ách đô hộ thống trị của quân thù xâm lược Đại Minh. Thế nhưng vị vua anh hùng Lê Lợi ở ngôi chưa được bao lâu thì qua đời, chỉ ngót 5 năm kể từ ngày khai sinh ra nhà nước Hậu Lê. Bây giờ theo lẽ thông thường của các triều đại phong kiến thì hoàng tử trưởng sẽ được lập làm người kế vị. Thế nhưng, Lê Nguyên Long – hoàng tử thứ hai của Thái tổ Lê Lợi mới là người được chọn. Vậy thì vì cớ gì mà lúc sinh thời Lê Lợi đã quyết định bỏ trưởng lập thứ, một hành động thường gây chia rẽ và dẫn tới những hậu họa về sau?

Vào những ngày cuối tháng Giêng năm 1425 khi nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu thực thi kế sách chiến lược của Nguyễn Chích là đánh từ Thanh Hóa xuôi về miền Nghệ An để giải phóng Nghệ An cùng các vùng lân cận phía nam rồi sau đó mới tiến ngược ra Bắc đánh kinh thành Thăng Long. Khi sắp vào chiến địa, Lê Lợi cho binh lính nghỉ ngơi chỉnh đốn quân ngũ chuẩn bị vây đánh thành Nghệ An. Trong vòng một tuần, quân lính được dưỡng sức, lại được nhân dân trong vùng mừng đón mang lễ vật trâu, rượu tiến dâng. Lê Lợi đem những đồ ấy chia cho các tướng cùng lính tráng khiến lòng quân ai nấy cùng hăng hái nguyện gắng sức cùng nhau đánh giặc. Khi tới cửa sông Hưng Nguyên, chỗ ấy có đền thờ thần mà tục gọi là thần Quả. Lê Lợi đêm nằm chiêm bao mơ thấy thần nhân nói với mình rằng:

“Vương cho tôi một người thiếp, tôi sẽ phù hộ Vương diệt giặc Ngô làm nên nghiệp Đế.” Sáng sớm khi tỉnh dậy, Lê Lợi cho mời các bà vợ đến hỏi rằng:

“Trong số các nàng, có ai chịu làm vợ cho Thần không? Sau này khi lấy được thiên hạ, ta sẽ lập con của người đó làm Thiên tử”. Khi ấy bà Ngọc Trần mới quỳ xuống nói rằng:

“Túc hạ giữ đúng lời giao ước, thiếp xin chịu nhận việc ấy. Ngày sau chớ phụ con thiếp”. Lê Lợi vô cùng thương cảm, hứa với bà sẽ hết sức nuôi dạy Nguyên Long, rồi giao ước cùng các quan văn, võ y như lời ấy. Đến ngày hăm bốn tháng Ba cùng năm, Lê Lợi giao bà Ngọc Trần cho thần Phổ Hộ bắt lấy, chết ngay trước mắt; bấy giờ Thái tông Lê Nguyên Long mới vừa ba tuổi!

Năm 1433 Thái tổ Lê Lợi băng hà. Đúng theo giao ước, hoàng tử Lê Nguyên Long được lên ngôi kế vị, trở thành vị hoàng đế thứ hai của nhà nước Hậu Lê với niên hiệu Lê Thái Tông. Trong những năm đầu cầm quyền, mặc dù còn nhỏ tuổi lại không có mẹ tham gia nhiếp chính; tuy nhiên nhà nước Hậu Lê bấy giờ vẫn còn đầy đủ các cựu thần từ thời Lê Lợi nên mọi việc trong ngoài đều được lo liệu ổn thỏa. Đến năm mười bảy tuổi, vua Lê Thái Tông cũng đã tự mình cầm quân đi dẹp loạn, thu phục các thế lực được người Ai Lao chống đỡ tại các vùng miền núi phía Bắc. Nhờ kiên cường giữ vững lãnh thổ cùng việc thừa hưởng cơ nghiệp vững chắc từ thời vua cha nên mối bang giao giữa Đại Việt cùng các nước láng giềng đều được hòa hiếu tốt đẹp. Đế quốc Đại Minh mấy năm trước “về đến nước mà vẫn tim đập chân run” thì tới nay cũng chưa dám bày trò gây sự; còn các nước như Chiêm Thành, Xiêm La… vẫn thường hay cử sứ giả sang giao hiếu, biếu cống.

Nếu như Thái tông Lê Nguyên Long có cha là Thái tổ Lê Lợi – một vị vua anh hùng có công giải phóng dân tộc, đưa đất nước vùng lên thoát ra những tháng ngày đen tối tệ hại bậc nhất kể từ thời kỳ dựng nước; có con là Thánh tông Lê Tư Thành (người miền Nam gọi Lê Thánh Tôn) đưa Đại Việt lên một tầm vóc mới đầy rực rỡ cùng công cuộc bình Chiêm dữ dội vào năm 1471, đẩy ranh giới người Chiêm lùi sâu tận núi đá Bia phía Nam tỉnh Phú Yên và khiến vương quốc Chăm-pa của người Chiêm từ đây không bao giờ gượng dậy để trở nên hùng mạnh như cũ nữa… Thì Thái tông Lê Nguyên Long có những dấu ấn gì để truyền lại cho các thế hệ mai sau?

Chuyện về vua Lê Thái Tông thật là buồn! Ông là vị vua có hoàn cảnh tương đối đặc biệt, hiếm gặp khi có mẹ là bà Ngọc Trần đã cam chịu thiệt thân, làm vật tế Thần giữa lúc cuộc kháng chiến chống quân Minh đang vào hồi ác liệt. Không những thế, câu chuyện mà vua Lê Thái Tông để lại cho hậu thế còn là một câu chuyện khác đầy bi thương hơn nữa. Không gì khác, đó chính là vụ án chấn động Lệ Chi Viên (vườn Lệ Chi – Trại vải) tại nơi ở của Nguyễn Trãi. Theo vụ án này, các nguồn sử cũ đều cho rằng bà Nguyễn Thị Lộ, một ái thiếp của đại công thần Nguyễn Trãi chính là người đã hại chết vua dẫn đến việc Nguyễn Trãi phải chịu án tru di tam tộc liền sau đó…
Thái tông Lê Nguyên Long “thiên tư sáng suốt” làm vua được 8 năm, giữ vững cơ nghiệp non trẻ nhà Hậu Lê rồi mất lúc 20 tuổi; tiếp nối và mở ra một thời kỳ thịnh trị mới cho dân tộc Việt.

Xin cảm ơn các bạn đã theo dõi!

Chuyện về Thái tông Lê Nguyên Long - Vị vua kế nghiệp Thái tổ Lê Lợi | Lão Bộc - Quét Lá Đa Năm 1433 Thái tổ Lê Lợi băng hà. Đúng theo giao ước, hoàng tử Lê Nguyên Long được lên ngôi kế vị, trở thành vị hoàng đế thứ hai của nhà nước

Thần cơ Thương pháo Hay Thần cơ Sang pháo? | Lão Bộc - Quét Lá Đa 13/06/2021

THẦN CƠ THƯƠNG PHÁO HAY THẦN CƠ SANG PHÁO?

Đất nước Việt Nam từ cổ chí kim là một đất nước thường xuyên phải đương đầu với những thế lực hùng mạnh từ các quốc gia lân bang. Để làm nên chiến thắng, bên cạnh tài năng của người lãnh đạo thì một vấn đề mấu chốt khác nữa ấy chính là sức mạnh của vũ khí. Nếu như ở thời cổ đại, tướng quân Cao Lỗ đã chế tạo ra chiếc “Nỏ thần liên châu” cùng lúc có thể bắn ra hàng trăm mũi tên giúp Thục Phán An Dương Vương đẩy lùi đoàn quân xâm lược của Triệu Đà vào năm 208 TCN; thì vào thời kỳ trung đại, Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã cải tiến chế tạo ra khẩu súng lớn với tên gọi “Thần cơ Thương pháo” – Khẩu súng đã khiến cho quân thù hết sức kinh ngạc nên sau khi đánh chiếm nước ta, quân Minh đã truy bắt gia quyến Hồ Nguyên Trừng đem về nước, buộc ông phải chế tạo vũ khí cho chúng.

Vào năm 1407 khi tràn sang xâm lược nước ta, đoàn quân Đại Minh đã vấp phải sự kháng cự tương đối mạnh mẽ từ phía quân đội nhà Hồ. Bằng tài năng quân sự của mình, Hồ Nguyên Trừng đã tiến hành xây dựng, chế tạo rất nhiều công trình, vũ khí mới lạ mà nổi bật trong số đó chính là khẩu “Thần cơ Thương pháo” có sức mạnh vượt trội đến nỗi quân Minh cũng phải trầm trồ thán phục rằng “Diệu kỳ… Cách 100 bước, nghe thấy tiếng thì lửa đã đến”. Dẫu rằng cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhà Hồ cuối cùng đi vào thất bại nhưng Thần cơ Thương Pháo mãi mãi là một biểu tượng quân sự cùng với “thuyền cổ lâu” và “thành đá nhà Hồ” khi nói về một thời kỳ ngắn ngủi nhưng đầy dấu ấn trong lịch sử ngàn năm của nước Việt – ấy là thời kỳ nhà nước Đại Ngu của hai cha con Hồ Quý Ly – Hồ Hán Thương. Thế nhưng khi tìm hiểu về đề tài này, tôi nhận thấy nhiều tài liệu cũng chép rằng “Thần cơ Sang pháo” để ám thị cho loại súng lớn “diệu kỳ” mà Hồ Nguyên Trừng đã chế tạo nên. Vậy thì “Thần cơ Thương pháo” hay “Thần cơ Sang pháo”? Tên gọi nào mới thực sự chuẩn xác để nói về loại súng lớn mà Hồ Nguyên Trừng – người con cả của Hồ Quý Ly đã cố công chế tạo nên vào những năm đầu thế kỷ XV ở nước ta? Đây là câu hỏi mà chính tôi cũng đã từng vô cùng phân vân cho tới một hôm…

Xin được phép giãi bày cùng quý bạn đọc một lần nữa rằng tôi lấy danh từ “Lão Bộc” đặt làm tên blog của mình, điều này không có nghĩa rằng tôi đã là một ông già mà ngược lại tôi đang là một thanh niên, một thanh niên thế hệ 8X thời kỳ kế cuối. Khi viết bài này thì tôi đang tự học chữ Hán được độ vài tháng…

Một buổi nọ khi tôi không hề có ý định viết ra điều gì đó, mà tôi chỉ đang chăm chú vào bài học của mình. Theo đó, bài học Số 44 trang 155 sách “Toàn thư Tự học chữ Hán” của tác giả Trần Văn Chánh – Lê Anh Minh (tái bản lần thứ sáu – in năm 2020); trong bài Số 44 – chủ đề Binh khí, tác giả viết rằng: “Cổ thời binh khí, hữu qua mâu, hữu đao kiếm, hữu cung tiễn. Cận thời binh khí, đa dụng thương pháo. Năng cập viễn, năng công kiên.”

Dịch nghĩa: “Vũ khí thời xưa có qua, mâu, đao, kiếm, cung, tên. Vũ khí thời nay, phần nhiều dùng súng ống. Có thể bắn đến nơi xa, có thể đánh chỗ vững chắc.”

Khi đọc tới hai chữ “thương pháo”, tôi cảm thấy hồ hởi như kẻ lang thang vừa lạc vào một khung trời mới. Tin rằng sẽ có điều gì đó hay ho, vui mừng tôi đọc tiếp đến phần từ vựng thì tác giả viết rằng:

- Thương (14 nét): Khẩu súng (cũng đọc là Sang).
- Pháo (21 nét): Súng lớn.

Vậy thì đến đây câu chuyện về tên gọi của khẩu súng lớn mà Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng – người con trưởng của Hồ Quý Lý cố công chế tạo ra đã được làm sáng tỏ.

Về phía Hồ Nguyên Trừng sau khi bị giải sang Trung Hoa sống cuộc đời lưu vong, ông bị buộc đổi lại họ cũ nên còn có tên gọi khác là Lê Trừng. Nhà Minh tận dụng khả năng của ông cho đến cuối đời, thăng đến chức Tả thị lang Bộ công. Sau khi ông mất, được truy tôn là “Thần hỏa khí – Mỗi khi tế súng, đều phải tế Trừng!” Còn tại quê hương Việt Nam, Hồ Nguyên Trừng được hậu bối xem như là ông tổ của nghề đúc súng thần công khi đã cải tiến nâng cấp các loại hỏa pháo trước đó để khai sinh ra một loại súng mới uy lực hơn hẳn, ấy chính là “Thần cơ Thương Pháo” hay còn được lưu truyền bằng tên gọi khác là “Thần cơ Sang Pháo”.

Xin cảm ơn các bạn đã theo dõi!

Thần cơ Thương pháo Hay Thần cơ Sang pháo? | Lão Bộc - Quét Lá Đa Thế nhưng khi tìm hiểu về đề tài này, tôi nhận thấy nhiều tài liệu cũng chép rằng “Thần cơ Sang pháo” để ám thị cho loại súng lớn “diệu kỳ”

Đọc chuyện Tam Quốc nhớ Nguyễn Biểu nước Nam | Lão Bộc - Quét Lá Đa 24/02/2021

ĐỌC CHUYỆN TAM QUỐC NHỚ NGUYỄN BIỂU NƯỚC NAM

Chuyện Tam quốc bên nước Trung Hoa khởi đầu bằng việc anh hùng hào kiệt khắp nơi ra tay giúp nhà Hán đánh giặc Hoàng Cân (Khăn Vàng) giữa lúc vương triều này dần đến hồi suy vong. Thế nhưng câu chuyện chỉ thực sự trở nên sôi nổi, kịch tính kể từ khi các anh tài cùng chung sức chống quyền thần Đổng Trác và họ lập ra liên minh gồm Mười tám lộ chư hầu do Viên Thiệu được bầu làm minh chủ. Điều đó cho thấy rằng Đổng Trác có thế lực rất lớn và ai ai cũng muốn diệt trừ.

Tại hồi thứ Tám, khi mà thủ lĩnh của một trong Mười tám lộ chư hầu mạnh nhất ấy là Tôn Kiên vừa mới mất do chết trận thì Đổng Trác tỏ ra huênh hoang, ngày càng trở nên kiêu căng và lộng quyền, tự xưng Thượng phụ; khi ra vào dùng toàn nghi vệ thiên tử.

“Một hôm Trác ra ngoài cửa Hoành Môn có các quan đi tiễn, Trác mời các quan ở lại uống rượu.

Chợt có mấy trăm hàng binh vừa dụ được ở đất Bắc đến. Trác sai đem ra trước chỗ ăn tiệc, đứa thì đem chặt chân chặt tay, đứa thì đem khoét mắt xẻo mũi, đứa thì đem cắt lưỡi, đứa thì đem bỏ vạc dầu đun. Tiếng kêu khóc vang lừng trời đất.

Các quan đang ăn tiệc, thấy thế người nào người nấy đều run cầm cập, đánh rơi cả đũa. Trác vừa uống rượu vừa cười nói như không.

Lại một hôm khác, Trác ở sảnh đài, hội cả bách quan ngồi sẵn ra hai hàng. Rượu uống được độ vài tuần, thì Lã Bố đi tắt vào, ghé vào tai Đổng Trác nói thầm mấy câu, rồi thấy Trác cười mà nói rằng:

– Thế ra thực như vậy!

Nói rồi sai Lã Bố lôi quan Tư không, tên là Trương Ôn, đang ngồi dự tiệc, đem xuống dưới thềm. Các quan không biết đầu đuôi thế nào đều thất sắc. Một lát thấy quân hầu bưng lên một cái mâm đỏ, giữa để đầu lâu Trương Ôn. Các quan đều sợ mất vía, mặt ông nào cũng xám ngắt như gà cắt tiết. Đổng Trác cười nói:

– Các quan đừng sợ. Trương Ôn kết liên với Viên Thuật, toan hại ta. Nhân hai đứa gửi thư cho nhau, đưa nhầm cho con ta là Lã Ôn hầu (tức Lã Bố), nên ta mới đem chém. Các quan không có việc gì, đừng sợ.

Các quan dạ dạ rồi về.” (Trích Tam quốc Diễn nghĩa)

Hơn một ngàn năm sau ở tận trời Nam, nhà nước Đại Ngu của hai cha con Hồ Quý Ly – Hồ Hán Thương đã bị quân nhà Minh xâm lược cướp lấy năm 1407. Dưới chính sách đô hộ tàn bạo, quân nhà Minh dưới tay tướng giặc Trương Phụ đã gây bao đau thương tang tóc chẳng kém gì nhân vật Đổng Trác của nhà Hán năm xưa.

Cuối năm 1412, cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần do Trùng Quang đế Trần Quý Khoáng lãnh đạo đã nổ ra được gần năm năm. Cuộc khởi nghĩa đã có lúc tạo được tiếng vang rất lớn khi giải phóng cả một vùng Bắc Trung bộ kéo dài lên tận các vùng xung quanh Đông Quan (Hà Nội). Khi cuộc chiến đang đến hồi quyết liệt thì tướng giặc Trương Phụ và Mộc Thạnh trở lại nước ta, một mặt đưa chiếu vua Minh giở giọng nhân nghĩa ra mà mua chuộc, mặt khác đưa quân tổng lực đánh chiếm Nghệ An – nơi đồn trú của quân khởi nghĩa nhà Hậu Trần.

Trước tình thế cấp bách, Trùng Quang đế cử Nguyễn Biểu sang trại quân Minh gặp Trương Phụ nhờ dâng biểu cầu phong lên vua Minh Thành tổ nhằm thực hiện kế hoãn binh để Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị có thêm thời gian xây dựng, củng cố lực lượng. Bấy giờ tướng giặc giở trò hăm dọa, bèn sai quân hầu bày biện mâm cỗ thết đãi sứ giả Nguyễn Biểu. Lũ giặc này kể từ khi xâm chiếm nước ta, chưa bao giờ nghĩ đến hai từ “nhân nghĩa” thế sao nay chúng nó trở nên thiện chí như vậy? Nguyễn Biểu cẩn trọng giở ra xem thì hỡi ôi hai con mắt trợn trừng căm phẫn từ một chiếc đầu người luộc chín bày ra ngay trước mắt. Nguyễn Biểu điềm nhiên nói rằng: “Mấy thuở được ăn thịt người phương Bắc!” Thế rồi ung dung lấy đũa khoét mắt chấm muối ăn. Vừa ăn, vừa ngâm bài thơ “Cỗ đầu người”. Khí phách hiên ngang cùng tài ứng đối của Nguyễn Biểu khiến Trương Phụ phục lắm nhưng mà cũng giận lắm; sẵn có tên hàng tướng Phan Liêu được quân nhà Minh mới cho giữ chức Tri phủ Nghệ An gièm pha khiến Trương Phụ sai quân đem Nguyễn Biểu ra trói dưới chân cầu Lam Kiều, đợi nước thủy triều dâng cao dìm chết. Nguyễn Biểu trước khi chết vẫn hiên ngang mắng chửi quân giặc rằng:

“Chúng bay bên trong thì mưu đánh chiếm, bên ngoài lại rêu rao nhân nghĩa. Đã hứa lập con cháu nhà Trần mà lại chia nước Nam thành quận huyện, chẳng những cướp bóc mà còn tàn sát cả lương dân. Thực quả là giặc dữ.”
Một năm sau, cuối năm 1413, cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần đã bị quân giặc đàn áp dập tắt; toàn bộ các nhân vật chủ chốt hoặc tự sát hoặc bị quân giặc giết hại hết sức dã man. Dân nước Nam tiếp tục chìm vào những năm tháng đen tối nhất trong lịch sử kể từ khi các vua Hùng dựng nước cách nay hơn bốn ngàn năm.

Nguyễn Biểu từng đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) khi còn rất trẻ dưới triều đại nhà Trần; khi sống tận trung báo quốc, khi chết hóa thành bất tử, để lại cho đời một gương sáng về tinh thần hiên ngang bất khuất trước sự bạo ngược của quân thù ngoại xâm. Phan Liêu về sau bị nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt, là một trong số những kẻ bán nước cầu vinh tiêu biểu ở thời kỳ này; chỉ vì một chút danh lợi nhỏ nhoi mà họ cam tâm đứng về phía bên kia chiến tuyến đưa lưỡi dao ngọn giáo về phía dân tộc mình. Vết nhơ này, nỗi nhục này… lưu mãi ngàn thu.

Đọc chuyện Tam Quốc nhớ Nguyễn Biểu nước Nam | Lão Bộc - Quét Lá Đa Trước tình thế cấp bách, Trùng Quang đế cử Nguyễn Biểu sang trại quân Minh. Bấy giờ tướng giặc giở trò hăm dọa, bèn sai quân hầu bày biện

Thạch Bi Sơn - Núi Đá Bia | Lão Bộc - Quét Lá Đa 11/02/2021

Năm rồi mình không viết được nhiều bài. Kết thúc năm cũ bằng bài viết mới về ngọn núi thiêng cùng câu chuyện lịch sử hào hùng trong quá trình “mở cõi” của tiền nhân. Hy vọng qua năm sẽ ra được nhiều bài viết hữu ích, chất lượng hơn… CHÚC MỪNG NĂM MỚI toàn thể anh - chị - em cùng quý bạn bè thân hữu gần xa một năm mới AN KHANG THỊNH VƯỢNG!
- - -
THẠCH BI SƠN - NÚI ĐÁ BIA

Đất nước Việt Nam để có diện mạo “hình chữ S” như ngày hôm nay, tổ tiên chúng ta đã phải trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Trong hành trình ấy, cùng với những mốc thời gian là những địa danh đã trở thành lịch sử chứng minh về một thời oanh liệt đã qua. Và Thạch Bi Sơn tức núi Đá Bia ở phía Nam tỉnh Phú Yên là một trong những địa danh từng mang tính biểu tượng về một thời hào hùng như thế.

Nhìn lại nước ta thời trước khi Lê Lợi khởi nghĩa giành thắng lợi năm 1428 là một quãng thời gian hơn 20 năm đất nước bị quân xâm lược nhà Minh giày xéo, tàn phá đến tận cùng lực kiệt. Cùng với trước đó, sự suy yếu nhanh chóng của nhà Trần rồi tiếp đến nhà Hồ, dù ra sức củng cố, ban hành nhiều chính sách cải cách nhưng nhà Hồ cũng chỉ là một xã hội đầy chia rẽ. Ấy là quãng thời gian mà người Chăm-pa lợi dụng tình hình thường xuyên gây hấn, đem quân đòi lại những vùng đất mà trước đây các vua Chăm đã dâng tặng làm sính lễ hoặc dâng nộp để xin chuộc mạng. Ngay cả đầu thời Hậu Lê, nhân lúc các đời vua tiếp nối Thái tổ Lê Lợi còn nhiều chuyện lục đục. Năm 1470, Trà Toàn – vua nước Chăm-pa đã một mặt sai người sang cầu viện nhà Minh, một mặt tự dẫn quân tiến đánh Đại Việt. Trà Toàn huy động lực lượng hơn 10 vạn quân – một con số rất lớn đối với quy mô nước Chăm-pa thời bấy giờ. Tướng giữ thành Hóa Châu là Phạm Văn Hiển chống cự không nổi, bèn dồn dân vào trong thành, đóng cổng cố thủ. Thế nhưng thật không may cho Trà Toàn cũng như toàn thể người Chăm-pa. Bởi vì sau thời gian dài suy yếu thì nay ở nước Đại Việt xuất hiện một vị vua hùng tài đại lược bậc nhất, ấy chính là Thánh Tông Lê Tư Thành cháu nội Thái tổ Lê Lợi.

Vua Lê Thánh Tông (miền Nam gọi Lê Thánh Tôn) hay tin Hóa Châu nguy cấp, tức tốc đem 20 vạn quân thân chinh tiến xuống phía Nam theo đường biển đánh vào cửa Thị Nại (Quy Nhơn – Bình Định), cửa ngõ vương triều Chăm-pa. Lão tướng Thái sư Đinh Liệt, người theo Lê Lợi từ những ngày đầu kháng chiến, từng tham gia trận đại chiến Chi Lăng – Xương Giang chém chết tướng giặc Liễu Thăng năm nào và gọi Lê Lợi bằng cậu đã không cho quân Chăm-pa một cơ hội nào cả. Đoàn quân vua Lê Thánh Tông cùng Thái sư Đinh Liệt, Thái bảo Lê Niệm nhanh chóng đánh chiếm cửa biển Thị Nại mở đường tiến lên kinh đô Trà Bàn (Bình Định) bắt được Trà Toàn cùng vợ con và vô số binh lính Chăm-pa.

Từ Bình Định, vua Lê Thánh Tông tiếp tục tổ chức một cuộc hành quân vượt dãy Cù Mông (ranh giới hai tỉnh Bình Định – Phú Yên) tiến về phía nam đến dãy núi Đại Lãnh (địa phận hai tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa). Tại đây, trên đỉnh một ngọn núi cao, tạo hóa đã dựng sẵn một tòa đá hùng vĩ chót vót; vua Lê Thánh Tông sai tạc vào đây bài văn thể hiện ranh giới mới giữa hai nước Đại Việt – Chăm-pa. Từ đó, trong dân gian lưu truyền tên gọi Thạch Bi Sơn tức núi Đá Bia khi nói về ngọn núi cao nhất, nơi có tòa đá cao ngút trời mây từng là mốc giới của nước Đại Việt năm xưa.

Trước đây khi hầm đường bộ Đèo Cả chưa được khởi xây, lãng khách trên dọc đường thiên lý Bắc Nam khi qua đây đều rất dễ dàng phóng tầm mắt về phía Đông để ngước trông tòa Thạch Bi Sơn đứng sừng sững giữa mây – trời – gió – núi. Hoặc vào những ngày quang đãng, du khách cũng có thể trông thấy Thạch Bi Sơn từ đằng xa hàng chục ki-lô-mét nhìn từ đồng lúa Tuy Hòa – Phú Yên. Hơn năm trăm năm đã trải qua, núi vẫn đứng đấy nhưng có điều lạ là đoạn văn bia cụ thể thế nào thì ngày nay chúng ta không còn được thấy. Theo nhiều tài liệu chính thống chép lại thì vua Lê Thánh Tông đã cho tạc vào tòa đá đoạn văn có phần nội dung như sau:

“Chiêm Thành vượt qua, binh bại nước mất
An Nam vượt qua, tướng chết quân tan.”

Cho dù câu chuyện vua Lê Thánh Tông sai người tạc vào tòa đá thực hư như thế nào đi chăng nữa vì ngày nay không còn dấu vết; thì sự vươn dậy của vua Lê Thánh Tông đã chấm dứt quãng thời gian giằng co giữa hai nước Đại Việt – Chăm-pa bằng trận chiến đẫm máu người Chăm. Sau khi hạ thành Trà Bàn, vua Lê Thánh Tông không những thu hồi tất cả những vùng đất trước đây đã thuộc về Đại Việt mà ngài còn mở rộng lãnh thổ đến tận núi Đá Bia – Phú Yên; còn vương quốc Chăm-pa thì bị ngài chia thành ba tiểu quốc là Chiêm Thành, Hoa Anh và Nam Phan; tất cả đều phải xin thần phục Đại Việt. Riêng Trà Toàn, trên đường giải về Đông Kinh (Hà Nội) khi đến Nghệ An vì lo lắng mà sinh bệnh, chết.

Kể từ đây, đất nước Chăm-pa không bao giờ trở nên hùng mạnh đủ sức đương đầu Đại Việt như trước nữa. Ấy là dấu mốc lịch sử năm 1471 gắn liền tên tuổi vị vua hùng tài đại lược Thánh Tông Lê Tư Thành – vị vua trị quốc bình Chiêm.

Năm Minh Mạng thứ 16 tức 1835, nhà vua ra lệnh đúc bộ Cửu Đỉnh (gồm chín chiếc vạc lớn) đặt trước Thái miếu – Kinh thành Huế và được bảo tồn đến tận ngày nay. Bộ Cửu Đỉnh được đúc bằng đồng cùng những nét chạm trổ tinh vi đến mức tuyệt tác khắc họa nhiều chủ đề về cảnh vật, núi sông… Trong đó hình ảnh dãy núi Đại Lãnh, nơi có tòa Thạch Bi Sơn biểu tượng một thời là một trong các địa danh thiêng liêng được nhà vua chọn thể hiện trên bề mặt Tuyên đỉnh và đặt trước Thái miếu tồn tại đến tận ngày nay.

Xin trân trọng cảm ơn!
---
Link chi tiết:

Thạch Bi Sơn - Núi Đá Bia | Lão Bộc - Quét Lá Đa Thạch Bi Sơn tức núi Đá Bia ở phía Nam tỉnh Phú Yên là một trong những địa danh từng mang tính biểu tượng về một thời hào hùng như thế.

Đa nghi như Tào Tháo | Lão Bộc - Quét Lá Đa 13/11/2020

ĐA NGHI NHƯ TÀO THÁO.

Tam quốc Diễn nghĩa là một bộ tiểu thuyết nổi tiếng kể về giai đoạn lịch sử chiến tranh đầy ác liệt giữa các thế lực bên nước Trung Hoa vào những thế kỷ đầu sau Công nguyên. Theo đó, những nhân vật kinh điển, những câu chuyện kinh điển của thời kỳ này đã để lại cho hậu thế những câu chuyện, bài học sâu sắc thậm chí tạo nên những thành ngữ trong dân gian. Chẳng hạn để nói về một việc gì đó lằng nhằng, dài dòng thì người ta bảo là “vòng vo tam quốc”; hay như người nóng tính thì được so sánh là “nóng như Trương Phi”; “đa mưu như Gia Cát Lượng”… Trong khi tính cách của Trương Phi, của Gia Cát Lượng… được tác giả khắc họa bằng những chi tiết hình ảnh, sự việc đầy chân thực xuyên suốt câu chuyện thì còn có một nhân vật đa sắc khác cũng đã in sâu vào tiềm thức trong dân gian với câu thành ngữ “đa nghi như Tào Tháo”. Vậy thì sự đa nghi của Tào Tháo được thể hiện như thế nào, đã diễn ra làm sao mà đến nay còn được người đời nhắc mãi?

Nhắc đến Tào Tháo thì người đời sau thường cho rằng ông là một kẻ “gian hùng”. Điều này không có gì sai. Nhưng thật ra, cách gọi ấy cũng chưa thể hiện hết bản chất đa sắc mà chỉ diễn tả đúng một phần cuộc đời Tào Tháo bởi trước khi trở thành con người “bất chính” thì Tào Tháo vốn là một tay anh hùng, dám làm cái việc mà ít người trong thiên hạ dám làm, đó chính là việc ra tay ám sát quyền thần Đổng Trác – kẻ đang thao túng triều đình nhà Hán và gây bao đau thương tang tóc với đời sống con dân nhà Hán lúc bấy giờ. Thế nên để nói về con người Tào Tháo thì một thuộc hạ của ông đã đưa ra nhận định rằng “Thừa tướng là một vị tôi giỏi thời bình và gian hùng thời loạn.”

Tào Tháo (155 – 220) tự Mạnh Đức, tiểu tự là A Man vốn thuộc dòng dõi Tướng quốc nhà Hán. Do ông cha có công phục vụ nhà Hán trải nhiều đời vua nên đến thời Hán Linh đế, Tào Tháo được giữ chức Kiêu kỵ Hiệu úy trong triều. Lúc bấy giờ quyền thần Đổng Trác tác oai tác quái, chẳng việc gì mà y không dám làm kể cả việc bức tử vua, Đường phi và Hà Thái hậu. Nhiều bậc đại thần tận trung nhà Hán đau xót trước cảnh đất nước bị gian thần làm hại; lòng đầy căm phẫn nhưng cũng chưa biết cách làm sao vì thế lực Đổng Trác lớn lắm, bên cạnh lại có dũng tướng Lã Bố hộ vệ nên rất khó tiếp cận. Một hôm, quan Tư đồ Vương Doãn bí mật triệu tập bá quan tìm cách diệt trừ Đổng Trác thì Tào Tháo dâng kế nguyện làm thích khách bởi Tào Tháo là tay chân thân tín của Đổng Trác, được Trác tin dùng nên dễ dàng ra vào nơi cung cấm. Thế là quan Tư đồ Vương Doãn gửi gắm nỗi niềm nơi Tào Tháo, bèn trao cho Tháo con dao thất bảo gia truyền “chém sắt như chém bùn” cùng hy vọng chấn hưng Hán quốc. Mặc dù sự việc hành thích Đổng Trác về sau thất bại nhưng hành động ấy đã đưa tên tuổi Tào Tháo lên một tầm vóc mới và là động thái khiến anh hùng hào kiệt khắp nơi sôi nổi đứng lên chống đối quyền thần Đổng Trác.
Vừa lúc Tào Tháo rút dao thất bảo chực đâm thì bỗng dưng Đổng Trác giật mình tỉnh giấc. Nếu chẳng nhờ nhanh trí lừa được Đổng tặc thì chắc hẳn cuộc đời Tào Tháo đã chấm hết dưới ngọn kích Lữ Bố; và cũng sẽ chẳng có câu chuyện bi tráng ở lầu Bạch Môn, nơi Lữ Bố tuyệt mệnh bởi chính Tào Tháo ở những hồi sau…

Lừa được cả Đổng Trác cùng Lữ Bố, Tào Tháo vội vã lẻn ra ngoại thành cắm đầu cắm cổ chạy trốn, thoát sự truy kích. Trên đường hướng về quê cũ, sau bao đêm ngày vất vả, cuối cùng Tào Tháo cũng đến được nhà Lã Bá Sa – bá phụ của Tháo. Ông lão rưng rưng mừng rỡ vì lâu ngày không thấy tăm hơi; lại vì hay tin Tháo đang bị triều đình truy nã gắt gao chưa biết sống chết ra sao, nay bỗng nhiên về lại dưới mái nhà thì có niềm hân hoan nào bằng… Thế là như để bù đắp cho quãng ngày cơ cực đói khát của Tháo cũng như để đền ơn cứu mạng của vị quan Tri huyện Trần Cung đã có công che chở Tào Tháo trên đường trốn chạy; Lã Bá Sa liền sai người nhà chuẩn bị đồ ăn thức uống thật chỉnh tề, chu đáo, còn mình thì lộc cộc cưỡi con lừa già qua làng bên mua rượu thật ngon thết đãi Tào Tháo cùng Trần Cung bất chấp những hiểm nguy nơi vắng vẻ khi bấy giờ màn đêm cũng đã dần buông xuống. Trong cơn lơ mơ của giấc ngủ chập chờn, bỗng Tào Tháo nghe có tiếng mài dao sột soạt cùng lời bàn tán xì xào phía đằng sau. Vốn là phạm nhân đang bị triều đình truy nã gắt gao và trọng thưởng rất hậu cho những ai bắt được Tào Tháo nên Tháo vô cùng cảnh giác; Tháo bỗng giật mình, khẽ lay Trần Cung. Trong tiếng mài dao vẫn còn văng vẳng, bỗng có tiếng ai đó thì thầm bảo nhau “trói lại rồi giết”. Ôi thôi! Tóc tai Tào Tháo rợn lên dựng hết cả dậy. Thế là không còn nghi ngờ gì nữa, Tháo cùng Trần Cung mang gươm tìm ra sau nhà điên cuồng giết hại chẳng chừa một ai. Đến khi hai người lần mò phát hiện ra một con lợn đang bị trói chổng vó trong chuồng chờ chọc tiết thì họ mới chợt bừng tỉnh nhận ra rằng mình đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Sự việc đã lỡ, bây giờ hối hận cũng đã muộn màng, Tào Tháo cùng Trần Cung chỉ còn biết nhanh chóng phóng ngựa rời đi. Đi được độ hai dặm đường thì đằng xa có tiếng lốc cốc vọng về trong đêm trăng mờ ảo. Thì ra là âm thanh va vào nhau từ hai chiếc bình rượu treo trên cổ con lừa được Lã Bá Sa đem về cứ vang đều theo từng nhịp chân chậm rãi.

– “Hiền điệt với sứ quân sao lại ra đi?” – Lã Bá Sa ngỡ ngàng hỏi Tháo cùng Trần Cung. Tào Tháo bảo rằng:

– “Tôi là người có tội, không dám ở lâu”.

– “Ta đã dặn người nhà làm thịt con lợn rồi. Sứ quân với hiền điệt ngại gì một đêm. Xin quay ngựa lại cho.”

Bấy giờ Tào Tháo thầm nghĩ mình đã lỡ lầm ra tay sát hại cả nhà Lã Bá Sa rồi, nếu bây giờ để ông cụ về thấy cảnh tượng thương tâm thì làm sao cầm lòng cho được, rồi có khi lại đi báo quan tố cáo mình. Thế là Tào Tháo lại lừa ông lão:

– “Ai theo sau bá phụ thế?” – Tào Tháo giả vờ hỏi.

Lã Bá Sa bèn ngoảnh đầu đưa mắt nhìn về phía sau thì Tháo liền rút gươm chém ngay ông lão lăn xuống đất, chết.

Thương thay cho quan Tri huyện Trần Cung, trước đây vì ngưỡng mộ khí chất khẳng khái trượng phu mà bao che Tào Tháo, rồi rũ áo bỏ mũ từ quan nguyện cùng Tháo dựng nên nghiệp lớn, ấy là lật đổ quyền thần, tận trung báo quốc. Thế nhưng sau khi chứng kiến cảnh Tào Tháo ra tay tàn sát cả nhà bá phụ, Trần Cung không khỏi bàng hoàng, thảng thốt than rằng:

– “Mạnh Đức ơi! Ta đa nghi quá. Giết hại người tử tế rồi.”

Lúc này Tào Tháo phân bua rằng: “Ta thà phụ người chứ không để người trong thiên hạ phụ ta…”

Nói về sự đa nghi của Tào Tháo thì quả không khó để dẫn dụ thêm nhiều câu chuyện minh chứng thuyết phục khác trong bộ tiểu thuyết “Tam quốc Diễn nghĩa” của La Quán Trung. Thế nhưng câu chuyện đầy cảm động về việc sát hại cả nhà Lã Bá Sa cùng câu nói bất hủ “Ta thà phụ người, không để người phụ ta” cũng đủ kinh điển để minh chứng cho câu thành ngữ đã in sâu vào tiềm thức trong dân gian “Đa nghi như Tào Tháo.”

Xin cảm ơn các Anh/chị và các bạn đã theo dõi!

Đa nghi như Tào Tháo | Lão Bộc - Quét Lá Đa suốt câu chuyện thì còn có một nhân vật đa sắc khác cũng đã in sâu vào tiềm thức trong dân gian với câu thành ngữ “đa nghi như Tào Tháo”

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Quận Gò Vấp?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Address


Quận Gò Vấp