Di sản văn hóa Thái Bình

Di sản văn hóa Thái Bình

Share

Ban Quản lý di tích tỉnh Thái Bình
Địa chỉ: Số 18, phố Đoàn Nguyễn Tuấn, thành phố Thái Bình

Photos from Di sản văn hóa Thái Bình's post 10/05/2022

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC ĐỊA ĐIỂM HÀNH CUNG LỖ GIANG

Hành cung Lỗ Giang nằm ở khu vực đền Trần (đền Thái Lăng) thuộc thôn Thâm Động, xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Gọi là cung Lỗ Giang vì được xây trên khu vực sông Lỗ Giang, khi phủ Kiến Xương được thành lập thì lấy tên phủ để gọi tên cung.

Qua các nguồn tư liệu nói trên cho thấy, đền Thái Lăng nay gọi là đền Trần Thái Lăng được xây dựng trên khu vực vốn là Hành cung Lỗ Giang dưới thời vua Trần Anh Tông, cung Kiến Xương dưới thời vua Trần Hiến Tông. Trải qua thời gian, những biến thiên của lịch sử, cung Lỗ Giang - Kiến Xương của nhà Trần bị đổ nát, nhân dân đến đây xây làng lập ấp.

Để ghi nhận vùng đất vốn là Hành cung của nhà Trần và tưởng nhớ công đức của các vua Trần, nhân dân đã xây dựng ngôi đền nhỏ tại đây để thờ phụng các vua Trần như là Thành hoàng làng. Cũng vì cung Lỗ Giang được sử sách nhắc đến từ thời Trần Anh Tông trở về sau nên đền chỉ thờ 7 vị vua Trần từ vua Trần Anh Tông trở đi mà không thờ 3 vị vua đầu triều Trần, là: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông và Trần Thuận Tông. Ngoài thờ 7 vị vua nhà Trần, nơi đây còn tưởng niệm Khâm Từ Bảo Thánh Thái Hậu (mẹ vua Trần Anh Tông) Bảo Từ Thuận Thánh Thái Hậu (là hoàng hậu của Trần Anh Tông) là những vị quốc mẫu nổi tiêng thời Trần đã mất tại đây.

Di tích khảo cổ Hành cung Lỗ Giang được khai quật ở 3 vị trí là đền Trần (Khu A), lăng Ngói (Khu B), lăng Sa ngoài (khu C) và lăng Sa trong (Khu D).

Đợt khai quật khảo cổ học lần thứ Nhất.

Tháng 11/2014, dựa trên kết quả điều tra, khảo sát, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Bảo tàng tỉnh Thái Bình tiến hành khai quật thám sát khảo cổ học lần thứ Nhất, tiến hành tại hai khu vực là khu A (đền Trần) và khu B (lăng Ngói). Kết quả khai quật năm 2014, bước đầu đã phát hiện được một phần nền móng của các công trình kiến trúc gỗ nhà Trần vào thế kỷ XIII, XIV. Các dấu vết bó nền, móng trụ và sân gạch tìm thấy tại hố H1 và H4 là của một công trình kiến trúc (LG14.KT01) rất độc đáo, có mặt bằng lớn, nằm theo chiều Đông – Tây, mặt quay hướng Nam, hai bên có sân gạch được xây dựng rất quy chuẩn. Với hệ thống móng trụ kép được xây dựng rất kiên cố, các chân tảng lớn tìm thấy trong khuôn viên, các loại ngói mũi sen lợp thân mái và diềm mái cùng các loại vật liệu trang trí trên mái tìm thấy trong khu vực Đền cho thấy, kiến trúc LG14.KT01 là kiến trúc khung gỗ, mái lợp ngói mũi sen có quy mô lớn và được trang trí hết sức công phu, đẹp đẽ và tráng lệ giống như kiến trúc cung điện trong Hoàng cung Thăng Long. Các loại ngói mũi sen lợp diềm mái, các loại ngói úp nóc, lợp bờ nóc, hay bờ dải trang trí hình rồng cùng những đầu rồng tìm được tại khu vực đền Trần đã chứng minh đây chính là dấu tích của những kiến trúc cung điện. Các loại hình vật liệu kiến trúc được tìm thấy có niên đại kéo dài từ khoảng nửa cuối thế kỷ XIII đến hết thế kỷ XIV. Những lá đề lệch được chế tạo tách biệt phần thân và đế là loại hình phổ biến ở giữa thế kỷ XIV; Các loại ngói lót giống với loại ngói tìm thấy ở di tích Ly Cung, Nam Giao và thành nhà Hồ, có niên đại vào cuối thế kỷ XIV.

Đợt khai quật khảo cổ học lần thứ Hai.

Tháng 11/2015, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành tiếp tục phối hợp với Bảo tàng tỉnh Thái Bình tiến hành khai quật thám sát khảo cổ học lần thứ Hai, tiếp tục tiến hành khai quật toàn bộ khu A (đền Trần) và một phần khu D (lăng Sa trong) trong đó mục tiêu trọng tâm là khai quật làm rõ các dấu vết kiến trúc ở khu A. Trong đợt khai quật lần này, tại khu A, lần đầu tiên làm được rõ không chỉ mặt bằng của một công trình kiến trúc mà là một tổ hợp ít nhất gồm ba công trình kiến trúc kết nối với nhau trong một chỉnh thể. Cùng với đó là các di tích sân lát gạch xung quanh các kiến trúc. Những di vật khai quật được lần này phong phú hơn về số lượng và đa dạng về loại hình, rất nhiều di vật mới được tìm thấy ngày càng góp phần to lớn cho những nhận định về quy mô to lớn và sự nguy nga tráng lệ về một công trình được xây dựng công phu đẹp đẽ mang tính chất Hoàng gia như đã nhận định ở trên. Tại khu D, kết quả điều tra, khai quật thăm dò tại khu vực lăng Sa trong năm 2015 (Hố D1) đã tìm thấy một phần dấu vết móng tường bao được gia cố bằng sỏi rất kiên cố, phát hiện này không những cho thấy quy mô rộng lớn của Hành cung thời Trần mà còn là manh mối cho những suy đoán về quy mô to lớn rộng của các công trình kiến trúc nằm bên trong hệ tường bao. Đợt khai quật khảo cổ học năm 2015 đã tìm thấy nhiều di vật vật liệu kiến trúc có niên đại kéo dài từ khoảng nửa cuối thế kỷ XIII đến hết thế kỷ XIV. Ngoài ra, cũng thu được rất nhiều mảnh vỡ vật liệu kiến trúc có niên đại thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII, XVIII nằm trong lớp ngói đổ thời Trần.

Đợt khai quật khảo cổ học lần thứ Ba.

Đợt khai quật khảo cổ học giai đoạn 3 (2016 – 2017) di tích khảo cổ Hành cung Lỗ Giang tiến hành ở 3 vị trí là đền Trần (Khu A), lăng Sa trong (Khu D) và lăng Sa ngoài (khu C).

Tại khu A, kết quả khai quật đã làm rõ tổng thể mặt bằng kiến trúc độc đáo hình chữ “Công” đã phát hiện năm 2014 – 2015. Nghiên cứu kỹ về kỹ thuật xây dựng và xác định kết cấu và hình thái kiến trúc, thu thập cơ sở dữ liệu để phục dựng hình thái kiến trúc bằng công nghệ 3D. Tại khu C, đã phát hiện dấu vết “Gò sỏi” lớn rất độc đáo, phân bố trên khắp phạm vi hố khai quật và còn phát triển rộng ra xung quanh. Tại khu D, đã tìm thấy dấu vết của đoạn móng tường bao đầm bằng sỏi sét kiên cố. Nhiều hiện vật gạch ngói vỡ, đồ sành và gốm có niên đại thời Trần được tìm thấy xung quanh móng tường bao. Kỹ thuật xây dựng móng tường này giống như kỹ thuật xây dựng tường bao thời Lý ở khu di tích Hoàng thành Thăng Long. Đáng lưu ý nhất là tại khu vực lăng Sa trong đã khai quật làm xuất lộ rõ một nửa phía Tây của khuôn viên kiến trúc quy mô to lớn, khá hoàn chỉnh, trong đó tìm thấy hệ thống 3 công trình kiến trúc gỗ bên trong, bao gồm kiến trúc cổng, kiến trúc hình chữ Công và kiến trúc nhà dài có bộ vì 04 hàng cột. Phát hiện này rất quan trọng bởi nó không những cung cấp cơ sở cho sự suy đoán phạm vi phân bố của các công trình kiến trúc nằm bên trong hệ tường bao mà còn khẳng định rõ Hành cung Lỗ Giang xưa rất rộng lớn, được quy hoạch quy chuẩn như kiến trúc trong Hoàng cung Thăng Long, với nhiều công trình kiến trúc được xây dựng trong khuôn viên rộng lớn từ khu vực lăng Sa trong ra lăng Sa ngoài và trung tâm có thể là đền Trần (Thái Lăng).

Phát hiện khảo cổ học về Hành cung Lỗ Giang vào năm 2014 và kết quả khai quật vào các năm 2014 - 2017 đã gây một tiếng vang lớn trong giới khoa học Việt Nam. Phát hiện và nghiên cứu di tích Hành cung Lỗ Giang là thành tựu mới nhất, nghiên cứu quy mô nhất của khảo cổ học lịch sử Việt Nam trong khoảng thời gian gần đây. Các chuyên gia khảo cổ đánh giá rằng“di tích Hành cung Lỗ Giang là một viên ngọc quý giá vào bậc nhất trong kho tàng di sản văn hóa thời Trần hiện nay”.

Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy, đây là một khu di tích mang tính chất cung đình (tính chất Hoàng gia) điển hình của vương triều Trần. Do vậy, khu di tích có những đặc điểm chung mang tính thống nhất cao của nghệ thuật thời Trần trên toàn bộ lãnh thổ Đại Việt. Di tích hành cung Lỗ Giang cung cấp nhiều tư liệu quý hiếm, độc đáo về nghệ thuật xây dựng kiến trúc thời Trần mà hiện nay chưa thấy ở di tích nào có được (kể cả Thăng Long) trong tình hình nghiên cứu và tư liệu hiện nay, đã đóng góp những tư liệu quan trọng góp phần nghiên cứu các đặc trưng giá trị của lịch sử và văn hóa thời Trần, phản ánh rõ hơn về một giai đoạn lịch sử văn hóa đặc sắc thời Trần ở Thái Bình.

Với những giá trị tiêu biểu trên, Hành cung Lỗ Giang, tỉnh Thái Bình được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích khảo cổ học quốc gia theo Quyết định số 3085/QĐ-BVHTTDL ngày 03/12/2021./.

Photos from Bảo tàng Hưng Yên cơ sở 2's post 25/01/2022
Photos from Di sản văn hóa Thái Bình's post 21/03/2017

Lễ Hội Chùa Keo
Hàng năm làng Keo có hai lần mở hội tại Chùa: Hội vui xuân vào mùng 4 Tết nguyên đán và Hội tháng chín vào các ngày 13,14,15. Hai hội này do tính chất khác nhau. Do đó nội dung và hình thức cũng khác nhau.
1. Hội vui xuân.
Hội này có tính chất hội lễ nông nghiệp vừa có tính chất là hội thi tài. Vì thế ngoài việc lễ Phật, hình thức của hội được tổ chức bằng ba trò vui thi tài, gắn bó với sinh hoạt của cư dân nông nghiệp vùng sông nước là thi bắt vịt, thi ném pháo, thi nấu cơm.
Ngày mùng 4 tết hàng năm làng Keo mở hội vui xuân với ba trò vui chính: Thi nấu cơm, thi ném pháo, thi bắt vịt, trong đó thi nấu cơm được coi là hoạt động trung tâm của ngày hội.
Thi nấu cơm:
Để có cuộc thi vào sau tết, ngay từ đầu năm trước, cả 8 giáp làng Keo đã phải chuẩn bị mọi việc: chọn đậu, gạo, mật thật tốt, tìm các thanh nứa già gác sẵn trên dàn bếp cho thật khô; chọn các cô gái khéo tay, chưa có chồng và các chàng trai nhanh nhẹn để vào dự thi.
Sáng mùng 4 tết, trên sân trước cửa chùa Hộ - nơi diễn ra cuộc thi, theo thứ tự, 8 nhóm dự thi với các dụng cụ nấu ăn đã được sắp sẵn. Sau 3 hồi trống báo hiệu cuộc thi bắt đầu, ông chủ khảo châm lửa đốt nén hương dài khoảng 20 cm. Hương vừa bén lửa cũng là lúc 8 chàng trai của 8 giáp rời khỏi vị trí của giáp mình chạy đua bốn vùng quanh ao. Hết vòng thứ 4, mỗi người xuống ao xách một lọ nước về cho cô gái của giáp mình. Ngay lúc đó có hai người nữa cũng khẩn trương xiết đậu, giã bột, vo gạo... bên cạnh nắm bùi nhùi rơm, cô gái dùng hai thanh nứa già cọ mạnh vào nhau làm bật lên tia lửa xanh lét. Đó cũng là lúc tiếng reo mừng cổ vũ của người xem dậy lên khắp sân chùa. Công việc của người nội trợ nhanh nhẹn đến mức: Khi nén hương của ông chủ khảo vừa cháy hết, trên mâm đồng của nhiều giáp, người xem đã thấy đặt đầy đủ hai đĩa xôi, hai bát cơm, bốn bát chè và hai đĩa bánh. Sau khi dâng lên cúng thánh, ban giám khảo tiến hành chấm, chọn mâm nào có cơm, xôi đều dẻo, chè đủ ngọt, bánh ngon không dính lá thưởng cho 100 quan tiền xanh. Giáp nào chỉ đạt một tiêu chuẩn (về thời gian hoặc chất lượng) cũng được thưởng 3 quan tiền. Cuối cùng mâm cỗ được ban phát cho mọi người cùng thụ lộc để lấy may ngay từ những ngày đầu năm.
2. Hội tháng 9.
Hội tháng 9 là hội chính ở chùa Keo. Hội mở từ ngày 13/9 tức 100 ngày sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời. Ngày 14 là ngày sinh của Người, hội mở thêm ngày rằm là lễ tiết hàng tháng của đạo Phật. (tính theo âm lịch).
“Cho dù cha mắng mẹ treo
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm...”
Nếu hội xuân ở làng Keo vừa có tính chất thi tài vừa là hội làng về phong tục thì hội Keo tháng 9 mang đậm tính chất hội lịch sử, hội văn nghệ, hội được gắn liền với cuộc đời của Thiền sư Không Lộ.
Chuẩn bị cho hội tháng 9: Ngày từ sau ngày 3/6 (ngày giỗ thánh), tám giáp làng Keo chọn người có chức sắc, có uy tín trong làng làm chủ hội, mỗi giáp bầu một người giúp ông chủ hội điều hành mọi công việc trong hội.
Từ 3/6 đến 15/8, làng chọn ngày để trang hoàng tượng thánh. Mỗi năm một lần người ta chọn mua 100 vuông lụa để may áo cho tượng, rồi chờ một ngày tốt (trong khoảng từ 15/8-10/9) làng làm lễ thay áo.
Gần đến ngày hội, công việc được cắt đặt cụ thể cho từng ngày: Ngày 11/9: Dựng một cây phướn cao chừng 30m (khoảng 100 thước) có 8 cây song làm dây kéo ngay trên sân cỏ trước Tam quan ngoại. Xung quanh Tam quan ngoại dựng 8 cột cờ, trên cờ có thêu bốn chữ “cung phụng thánh tổ” đại diện cho 8 giáp.
Làng chọn 42 chàng trai khoẻ mạnh, thuần thục động tác để rước kiệu, nhang án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh (thuyền cò). Ở Keo gọi việc tuyển chọn này là “kéo kén” (kéo quân để kén người).
Ngày 12 tháng 9: ông chủ hội chọn trong số 42 chàng trai đã tuyển chọn, chọn lấy 4 người vào đoàn chính; 8 người vào đoàn gồng (mỗi gồng 2 người); 2 người cầm quạt che hai bên kiệu chính; 8 người rước nhang án, 10 người rước long đình, thuyền rồng, tiểu đỉnh.
Các buổi chiều: 10,11,12 cả tám giáp hạ trải bơi tập từ sông con (sông Trà Linh) trước cửa chùa ra sông cái (sông Hồng).
Vào hội: Ngày 13/9, ngày không chỉ có dân làng Keo mong đợi đã đến. Để tưởng nhớ 100 ngày mất của Thiền sư Không Lộ, ngay buổi sáng người ta tổ chức cuộc rước nhang án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh ra tam quan ngoại.
Chiều 13/9: Người đi hội đổ về dọc bờ sông Hồng để xem đua trải. So với trải ở Đào Động thì trải ở Hội Keo to hơn. Trải đóng bằng gỗ dổi dài 12m; lòng sâu 0,5m; đoạn giữa rộng nhất 1,2m; hai đầu thót lại và hơi cong. Số người bơi cũng giống như ở trải hội Đồng Bằng. Về trang phục của người bơi có điểm khác: đóng khố, mặc áo nẹp ngắn không tay, đầu chít khăn đồng màu. Mỗi trải có màu quần áo khác nhau nên rất dễ phân biệt.
Trên đoạn sông trước cửa chùa, 8 giáp cắm 8 cây tre làm 8 tiêu cho 8 trải (tiêu nọ cách tiêu kia 40m). Ngoài sông Hồng cắm 3 tiêu cho trải bơi theo đường gấp khúc, mỗi tiêu cách nhau 1 hoặc 2km. Tiêu cuối cùng là bến đò An Lãng bên hữu ngạn.
Sau ba vòng bơi, trải nào về tiêu của mình nhanh nhất thì sẽ chiếm giải nhất, các trải khác tuỳ theo thời gian, để nhận giải nhì, ba. Phần thưởng cho mỗi ngày thường là gạo, tiền. Trải nào được giải cốn (giải nhất cả 3 ngày hội) được thưởng thêm một thúng gạo vài ba quan tiền.
Trái ngược với không khí ồn ào, náo động ngoài mặt sông, Tại toà giá roi lại diễn ra cuộc thi “Thầy đọc” thật trật tự và chăm chú.Đây là các thầy cúng có giọng đọc tốt, làm văn hay của cả vùng hai bờ hạ lưu sông Hồng đến dự cuộc thi. Sau khi đã qua cuộc thi thử, người dự thi phải khăn áo chỉnh tề tự trình bày sáng tác của mình theo 6 chủ đề: Hương, đăng, hoa, trà, quả, thực.
Người ta gọi đây là văn lục cúng. Văn cúng thi ở hội Chùa Keo khác với các nơi. Các bài văn hoàn toàn được sáng tác bằng văn Nôm theo lối trào phúng. Vì thế người đọc cần có một giọng khôi hài phù hợp với lối văn này. Nhưng tại sao lại đọc những bài văn có tính khôi hài này trước đền thờ vị thánh tổ; theo một số cụ già làng Keo và nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là một cuộc thi tài mang tính văn nghệ chứ không phải nghi lễ tế thánh; và mang tính ngụ ngôn nên càng mang tính trào phúng bao nhiêu, gây được tiếng cười nhiều bấy nhiêu thì được đánh giá cao. Khi cuộc thi kết thúc ông chủ hội chọn lấy 4 người xuất sắc xếp loại thứ tự và trao giải thưởng từ 1 đến 3 quan tiền.
Buổi tối ngày 13/9, trong ánh sáng huyền ảo của nhang, nến người ta lại kính cẩn rước nhang án, long đình, thuyền rồng, tiểu đỉnh vào toà Thiêu hương. Tại đây diễn ra cuộc lễ thánh, thật tôn nghiêm. Đoàn lễ đầu tiên gồm: ông chủ hội, các ông tùng giá cùng 8 em bé (mục đồng); tiếp đến đoàn chấp hiệu (7 người), sau đó đến đoàn hàng thập (những người mặc áo vàng cầm đồ bát biểu trong cuộc rước kiệu thánh hôm sau) cùng hai ông tổng cờ, cuối cùng đến hàng đội (những người chân kiệu đóng khố bao) vào lễ.
Sau lễ tế thánh, một hoạt động nghệ thuật khá hấp dẫn được tổ chức đó là thi kèn, trống. Giải thưởng cho những người giật giải là 1 đến 3 quan tiền.
Đến giờ chót của ngày hội đầu tiên này (12 giờ đêm) là tục tế gốc cây phướn do ông chủ hội chủ trì. ở làng Keo gọi tục này là tục “long nhan cây phướn”.
Ngày 14 - kỷ niệm ngày sinh của Thiền sư Không Lộ. Ngay từ sáng sớm, người làng Keo đã lo cho cuộc rước kiệu thánh thật linh đình. Cuộc rước khởi đầu từ toà Thượng điện ra Tam quan ngoại. Đến tối lại rước bài vị thánh và toà Thiêu hương. Đám rước theo hình chữ Á (dạng chữ nho) khép kín. Người ta gọi là “xuất á, nhập á”. Đám rước dài gần 200m. Qua đám rước kiệu, cuộc đời của Dương Không Lộ được biểu hiện như một diễn xướng lịch sử. Trong đám rước giá thuyền rồng sơn son thiếp vàng, tượng trưng cho chuyến đi của Không Lộ lên kinh đô chữa bệnh cho nhà Vua, và có ý nhắc tới một quãng đời chài lưới của Dương Không Lộ; đoàn trẻ mục đồng (gồm 8 em tuổi từ 12 đến 14) tượng trưng cho những em bé chăn trâu cắt cỏ được gần gũi Không Lộ khi ông còn làm nghề chài lưới. Có lẽ cũng vì sự tích này mà làng Keo chia làm 8 giáp. Đặc biệt, khi đám rước đi đến góc bờ ao, người xem thấy xuất hiện 4 người điều khiển bẩy hình người bằng gỗ. Trong đó người thứ nhất điều khiển tượng gỗ hình phụ nữ. Đó là nhân vật bà Chàng (hay bà cá Rổi). Tượng bà Chàng giơ tay vẫy chào kiểu thánh. Người ta kể lại rằng: xưa kia bà Chàng theo Không Lộ lên trời bán cá, vì quá vui nên quên mất đường về. Hôm sau Không Lộ lại lên trời, bà Chàng trông thấy, vui mừng vẫy tay theo về.
Trong khi trên bờ diễn ra cuộc rước, thì ở dưới ao cuộc bơi thuyền của 8 em nhỏ chừng trên 10 tuổi cũng bắt đầu. Trên chiếc thuyền cò cốc, 8 em nhỏ mặc áo vàng đội khăn đỏ tết hình hai trái đào bơi thuyền có tính chất biểu diễn để thờ thánh.
Chiều 14, cuộc đua trải vẫn được tiếp tục như chiều 13, trong khi đó tại toà giá roi một nghi lễ chầu thánh bằng một điệu múa cổ, người dân ở đây thường gọi là múa ếch vồ.
Điệu múa do 12 người chân kiệu chính (hàng đội) có trang phục như khi đi rước kiệu, xếp thành hai hàng dọc ở gian giữa, quay về phía thượng điện; đứng chỉnh tề. Khi nghe một tiếng trống của ông chấp hiệu, mọi người để hai tay trước ngực, rồi quỳ xuống hai bàn tay chống xuống đất trước mặt, hai đầu bàn chân xoay chếch về hai phía; hai gót chân chụm lại đội lấy mông. Một tiếng trống tiếp theo, hai hàng đội vung mạnh hai tay về phía trái cho toàn thân bật dậy trở về tư thế ban đầu. Các động tác này lặp đi lặp lại 5 lần. Hình thức lễ thánh này đã được cách điệu như một điệu múa.
Ngày 15 - các nghi thức được tổ chức tương tự như ngày 14, duy có điều khác: cuộc lễ thánh của 12 người chân kiệu được thay bằng lễ chèo trải cạn chầu thánh vào ban đêm sau khi đã rước kiệu thánh về cung, kết thúc ba ngày ở chùa Keo. (Thật ra, hội chùa Keo hàng năm không chỉ giới hạn trong 3 ngày hội chính 13,14,15/9. Nhiều khách thập phương đã tới chiêm ngưỡng, lễ bái trước hoặc sau đó hàng tuần lễ).
Hội tháng 9 ở chùa Keo, ngoài tính chất hội thi tài còn mang đậm tính chất hội lịch sử. Bằng những nghi lễ tôn giáo cùng nhiều hình thức diễn xướng âm nhạc, múa dân gian, những cuộc thi kèn trống, thi thầy đọc.... Hội chùa Keo đã trở thành một mô hình sinh hoạt văn hoá mang đậm tính văn nghệ dân gian truyền thống. Đó là những sinh hoạt tinh thần phù hợp với trình độ và đời sống văn hoá của nhân dân. Với ý nghĩa trên, cùng nội dung phong phú và hình thức đa dạng hội chùa Keo từ lâu, đã là một trong số những hội nổi tiếng ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể xếp ngang với các hội như hội Gióng (Hà Nội), hội Trường Yên (Ninh Bình).....

Thái Bình, ngày 27 tháng 2 năm 2017
Bài và ảnh

Vũ Mạnh Hùng
Nét đẹp văn hóa trong Lễ Hội Chùa Keo
Hàng năm làng Keo có hai lần mở hội tại Chùa: Hội vui xuân vào mùng 4 Tết nguyên đán và Hội tháng chín vào các ngày 13,14,15. Hai hội này do tính chất khác nhau. Do đó nội dung và hình thức cũng khác nhau.
1. Hội vui xuân.
Hội này có tính chất hội lễ nông nghiệp vừa có tính chất là hội thi tài. Vì thế ngoài việc lễ Phật, hình thức của hội được tổ chức bằng ba trò vui thi tài, gắn bó với sinh hoạt của cư dân nông nghiệp vùng sông nước là thi bắt vịt, thi ném pháo, thi nấu cơm.
Ngày mùng 4 tết hàng năm làng Keo mở hội vui xuân với ba trò vui chính: Thi nấu cơm, thi ném pháo, thi bắt vịt, trong đó thi nấu cơm được coi là hoạt động trung tâm của ngày hội.
Thi nấu cơm:
Để có cuộc thi vào sau tết, ngay từ đầu năm trước, cả 8 giáp làng Keo đã phải chuẩn bị mọi việc: chọn đậu, gạo, mật thật tốt, tìm các thanh nứa già gác sẵn trên dàn bếp cho thật khô; chọn các cô gái khéo tay, chưa có chồng và các chàng trai nhanh nhẹn để vào dự thi.
Sáng mùng 4 tết, trên sân trước cửa chùa Hộ - nơi diễn ra cuộc thi, theo thứ tự, 8 nhóm dự thi với các dụng cụ nấu ăn đã được sắp sẵn. Sau 3 hồi trống báo hiệu cuộc thi bắt đầu, ông chủ khảo châm lửa đốt nén hương dài khoảng 20 cm. Hương vừa bén lửa cũng là lúc 8 chàng trai của 8 giáp rời khỏi vị trí của giáp mình chạy đua bốn vùng quanh ao. Hết vòng thứ 4, mỗi người xuống ao xách một lọ nước về cho cô gái của giáp mình. Ngay lúc đó có hai người nữa cũng khẩn trương xiết đậu, giã bột, vo gạo... bên cạnh nắm bùi nhùi rơm, cô gái dùng hai thanh nứa già cọ mạnh vào nhau làm bật lên tia lửa xanh lét. Đó cũng là lúc tiếng reo mừng cổ vũ của người xem dậy lên khắp sân chùa. Công việc của người nội trợ nhanh nhẹn đến mức: Khi nén hương của ông chủ khảo vừa cháy hết, trên mâm đồng của nhiều giáp, người xem đã thấy đặt đầy đủ hai đĩa xôi, hai bát cơm, bốn bát chè và hai đĩa bánh. Sau khi dâng lên cúng thánh, ban giám khảo tiến hành chấm, chọn mâm nào có cơm, xôi đều dẻo, chè đủ ngọt, bánh ngon không dính lá thưởng cho 100 quan tiền xanh. Giáp nào chỉ đạt một tiêu chuẩn (về thời gian hoặc chất lượng) cũng được thưởng 3 quan tiền. Cuối cùng mâm cỗ được ban phát cho mọi người cùng thụ lộc để lấy may ngay từ những ngày đầu năm.
2. Hội tháng 9.
Hội tháng 9 là hội chính ở chùa Keo. Hội mở từ ngày 13/9 tức 100 ngày sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời. Ngày 14 là ngày sinh của Người, hội mở thêm ngày rằm là lễ tiết hàng tháng của đạo Phật. (tính theo âm lịch).
“Cho dù cha mắng mẹ treo
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm...”
Nếu hội xuân ở làng Keo vừa có tính chất thi tài vừa là hội làng về phong tục thì hội Keo tháng 9 mang đậm tính chất hội lịch sử, hội văn nghệ, hội được gắn liền với cuộc đời của Thiền sư Không Lộ.
Chuẩn bị cho hội tháng 9: Ngày từ sau ngày 3/6 (ngày giỗ thánh), tám giáp làng Keo chọn người có chức sắc, có uy tín trong làng làm chủ hội, mỗi giáp bầu một người giúp ông chủ hội điều hành mọi công việc trong hội.
Từ 3/6 đến 15/8, làng chọn ngày để trang hoàng tượng thánh. Mỗi năm một lần người ta chọn mua 100 vuông lụa để may áo cho tượng, rồi chờ một ngày tốt (trong khoảng từ 15/8-10/9) làng làm lễ thay áo.
Gần đến ngày hội, công việc được cắt đặt cụ thể cho từng ngày: Ngày 11/9: Dựng một cây phướn cao chừng 30m (khoảng 100 thước) có 8 cây song làm dây kéo ngay trên sân cỏ trước Tam quan ngoại. Xung quanh Tam quan ngoại dựng 8 cột cờ, trên cờ có thêu bốn chữ “cung phụng thánh tổ” đại diện cho 8 giáp.
Làng chọn 42 chàng trai khoẻ mạnh, thuần thục động tác để rước kiệu, nhang án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh (thuyền cò). Ở Keo gọi việc tuyển chọn này là “kéo kén” (kéo quân để kén người).
Ngày 12 tháng 9: ông chủ hội chọn trong số 42 chàng trai đã tuyển chọn, chọn lấy 4 người vào đoàn chính; 8 người vào đoàn gồng (mỗi gồng 2 người); 2 người cầm quạt che hai bên kiệu chính; 8 người rước nhang án, 10 người rước long đình, thuyền rồng, tiểu đỉnh.
Các buổi chiều: 10,11,12 cả tám giáp hạ trải bơi tập từ sông con (sông Trà Linh) trước cửa chùa ra sông cái (sông Hồng).
Vào hội: Ngày 13/9, ngày không chỉ có dân làng Keo mong đợi đã đến. Để tưởng nhớ 100 ngày mất của Thiền sư Không Lộ, ngay buổi sáng người ta tổ chức cuộc rước nhang án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh ra tam quan ngoại.
Chiều 13/9: Người đi hội đổ về dọc bờ sông Hồng để xem đua trải. So với trải ở Đào Động thì trải ở Hội Keo to hơn. Trải đóng bằng gỗ dổi dài 12m; lòng sâu 0,5m; đoạn giữa rộng nhất 1,2m; hai đầu thót lại và hơi cong. Số người bơi cũng giống như ở trải hội Đồng Bằng. Về trang phục của người bơi có điểm khác: đóng khố, mặc áo nẹp ngắn không tay, đầu chít khăn đồng màu. Mỗi trải có màu quần áo khác nhau nên rất dễ phân biệt.
Trên đoạn sông trước cửa chùa, 8 giáp cắm 8 cây tre làm 8 tiêu cho 8 trải (tiêu nọ cách tiêu kia 40m). Ngoài sông Hồng cắm 3 tiêu cho trải bơi theo đường gấp khúc, mỗi tiêu cách nhau 1 hoặc 2km. Tiêu cuối cùng là bến đò An Lãng bên hữu ngạn.
Sau ba vòng bơi, trải nào về tiêu của mình nhanh nhất thì sẽ chiếm giải nhất, các trải khác tuỳ theo thời gian, để nhận giải nhì, ba. Phần thưởng cho mỗi ngày thường là gạo, tiền. Trải nào được giải cốn (giải nhất cả 3 ngày hội) được thưởng thêm một thúng gạo vài ba quan tiền.
Trái ngược với không khí ồn ào, náo động ngoài mặt sông, Tại toà giá roi lại diễn ra cuộc thi “Thầy đọc” thật trật tự và chăm chú.Đây là các thầy cúng có giọng đọc tốt, làm văn hay của cả vùng hai bờ hạ lưu sông Hồng đến dự cuộc thi. Sau khi đã qua cuộc thi thử, người dự thi phải khăn áo chỉnh tề tự trình bày sáng tác của mình theo 6 chủ đề: Hương, đăng, hoa, trà, quả, thực.
Người ta gọi đây là văn lục cúng. Văn cúng thi ở hội Chùa Keo khác với các nơi. Các bài văn hoàn toàn được sáng tác bằng văn Nôm theo lối trào phúng. Vì thế người đọc cần có một giọng khôi hài phù hợp với lối văn này. Nhưng tại sao lại đọc những bài văn có tính khôi hài này trước đền thờ vị thánh tổ; theo một số cụ già làng Keo và nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là một cuộc thi tài mang tính văn nghệ chứ không phải nghi lễ tế thánh; và mang tính ngụ ngôn nên càng mang tính trào phúng bao nhiêu, gây được tiếng cười nhiều bấy nhiêu thì được đánh giá cao. Khi cuộc thi kết thúc ông chủ hội chọn lấy 4 người xuất sắc xếp loại thứ tự và trao giải thưởng từ 1 đến 3 quan tiền.
Buổi tối ngày 13/9, trong ánh sáng huyền ảo của nhang, nến người ta lại kính cẩn rước nhang án, long đình, thuyền rồng, tiểu đỉnh vào toà Thiêu hương. Tại đây diễn ra cuộc lễ thánh, thật tôn nghiêm. Đoàn lễ đầu tiên gồm: ông chủ hội, các ông tùng giá cùng 8 em bé (mục đồng); tiếp đến đoàn chấp hiệu (7 người), sau đó đến đoàn hàng thập (những người mặc áo vàng cầm đồ bát biểu trong cuộc rước kiệu thánh hôm sau) cùng hai ông tổng cờ, cuối cùng đến hàng đội (những người chân kiệu đóng khố bao) vào lễ.
Sau lễ tế thánh, một hoạt động nghệ thuật khá hấp dẫn được tổ chức đó là thi kèn, trống. Giải thưởng cho những người giật giải là 1 đến 3 quan tiền.
Đến giờ chót của ngày hội đầu tiên này (12 giờ đêm) là tục tế gốc cây phướn do ông chủ hội chủ trì. ở làng Keo gọi tục này là tục “long nhan cây phướn”.
Ngày 14 - kỷ niệm ngày sinh của Thiền sư Không Lộ. Ngay từ sáng sớm, người làng Keo đã lo cho cuộc rước kiệu thánh thật linh đình. Cuộc rước khởi đầu từ toà Thượng điện ra Tam quan ngoại. Đến tối lại rước bài vị thánh và toà Thiêu hương. Đám rước theo hình chữ Á (dạng chữ nho) khép kín. Người ta gọi là “xuất á, nhập á”. Đám rước dài gần 200m. Qua đám rước kiệu, cuộc đời của Dương Không Lộ được biểu hiện như một diễn xướng lịch sử. Trong đám rước giá thuyền rồng sơn son thiếp vàng, tượng trưng cho chuyến đi của Không Lộ lên kinh đô chữa bệnh cho nhà Vua, và có ý nhắc tới một quãng đời chài lưới của Dương Không Lộ; đoàn trẻ mục đồng (gồm 8 em tuổi từ 12 đến 14) tượng trưng cho những em bé chăn trâu cắt cỏ được gần gũi Không Lộ khi ông còn làm nghề chài lưới. Có lẽ cũng vì sự tích này mà làng Keo chia làm 8 giáp. Đặc biệt, khi đám rước đi đến góc bờ ao, người xem thấy xuất hiện 4 người điều khiển bẩy hình người bằng gỗ. Trong đó người thứ nhất điều khiển tượng gỗ hình phụ nữ. Đó là nhân vật bà Chàng (hay bà cá Rổi). Tượng bà Chàng giơ tay vẫy chào kiểu thánh. Người ta kể lại rằng: xưa kia bà Chàng theo Không Lộ lên trời bán cá, vì quá vui nên quên mất đường về. Hôm sau Không Lộ lại lên trời, bà Chàng trông thấy, vui mừng vẫy tay theo về.
Trong khi trên bờ diễn ra cuộc rước, thì ở dưới ao cuộc bơi thuyền của 8 em nhỏ chừng trên 10 tuổi cũng bắt đầu. Trên chiếc thuyền cò cốc, 8 em nhỏ mặc áo vàng đội khăn đỏ tết hình hai trái đào bơi thuyền có tính chất biểu diễn để thờ thánh.
Chiều 14, cuộc đua trải vẫn được tiếp tục như chiều 13, trong khi đó tại toà giá roi một nghi lễ chầu thánh bằng một điệu múa cổ, người dân ở đây thường gọi là múa ếch vồ.
Điệu múa do 12 người chân kiệu chính (hàng đội) có trang phục như khi đi rước kiệu, xếp thành hai hàng dọc ở gian giữa, quay về phía thượng điện; đứng chỉnh tề. Khi nghe một tiếng trống của ông chấp hiệu, mọi người để hai tay trước ngực, rồi quỳ xuống hai bàn tay chống xuống đất trước mặt, hai đầu bàn chân xoay chếch về hai phía; hai gót chân chụm lại đội lấy mông. Một tiếng trống tiếp theo, hai hàng đội vung mạnh hai tay về phía trái cho toàn thân bật dậy trở về tư thế ban đầu. Các động tác này lặp đi lặp lại 5 lần. Hình thức lễ thánh này đã được cách điệu như một điệu múa.
Ngày 15 - các nghi thức được tổ chức tương tự như ngày 14, duy có điều khác: cuộc lễ thánh của 12 người chân kiệu được thay bằng lễ chèo trải cạn chầu thánh vào ban đêm sau khi đã rước kiệu thánh về cung, kết thúc ba ngày ở chùa Keo. (Thật ra, hội chùa Keo hàng năm không chỉ giới hạn trong 3 ngày hội chính 13,14,15/9. Nhiều khách thập phương đã tới chiêm ngưỡng, lễ bái trước hoặc sau đó hàng tuần lễ).
Hội tháng 9 ở chùa Keo, ngoài tính chất hội thi tài còn mang đậm tính chất hội lịch sử. Bằng những nghi lễ tôn giáo cùng nhiều hình thức diễn xướng âm nhạc, múa dân gian, những cuộc thi kèn trống, thi thầy đọc.... Hội chùa Keo đã trở thành một mô hình sinh hoạt văn hoá mang đậm tính văn nghệ dân gian truyền thống. Đó là những sinh hoạt tinh thần phù hợp với trình độ và đời sống văn hoá của nhân dân. Với ý nghĩa trên, cùng nội dung phong phú và hình thức đa dạng hội chùa Keo từ lâu, đã là một trong số những hội nổi tiếng ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể xếp ngang với các hội như hội Gióng (Hà Nội), hội Trường Yên (Ninh Bình).....

Thái Bình, ngày 27 tháng 2 năm 2017
Bài và ảnh

Vũ Mạnh Hùng

Đền Khoai Đồng, xã Thống Nhất, huyện Hưng Hà 01/12/2016

1. Giá trị lịch sử văn hóa.
Đền Khoai Đồng thờ phụng Vương Bà Thiên Tinh Công Chúa là một trong số các cừ súy (tùy tướng) của Bát Nạn tướng quân Vũ Thị Thục. Bà tham gia nghĩa quân của Bát Nạn tướng quân và tụ nghĩa dưới cờ của Hai Bà Trưng đánh tan quân xâm lược nhà Hán do thái thú Tô Định chỉ huy. Di tích liên quan đến đời sống tín ngưỡng của cư dân địa phương và là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng - tâm linh của cộng đồng cư dân thông qua lễ hội.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đền Khoai Đồng là địa điểm đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử của địa góp phần quan trọng trong truyền thống đấu tranh bất khuất của Đảng bộ và nhân dân xã Thống Nhất.
2. Giá trị khoa học thẩm mỹ.
Đền Khoai Đồng là một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn khá tiêu biểu cho phong cách kiến trúc dân gian Việt Nam thế kỷ XIX. Đền có quy mô kiến trúc kiểu chữ Đinh với hệ thống kết cấu khung cột, vì kèo, xà bằng gỗ lim có quy định thống nhất về kích thước, tương quan về tỷ lệ. Mặc dù các mảng chạm khắc không phong phú, chủ yếu là đề tài hoa văn lá lật nhưng vẫn còn bảo tồn nguyên vẹn yếu tố gốc có giá trị về kiến trúc nghệ thuật. Công trình này cần được tiếp tục bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị trong việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho cán bộ và nhân dân địa phương.
Di tích đã được xếp hạng di tích LSVH cấp Tỉnh theo quyết định số 2822/QĐ-UBND, ngày 16 tháng 10 năm 2016.
Vũ Mạnh Hùng
Ban QLDT tỉnh.

Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in Thái Bình?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Website

Address


Thái Bình
036