Xà Bông Cô Ba

Xà Bông Cô Ba

Share

Xà bông CÔ BA thương hiệu nổi tiếng một thời khắp Nam Kì. Mùi hương dễ chịu, thương lâu và hoài cổ

Photos from Xà Bông Cô Ba's post 18/05/2019

Xà bông Cô Ba hương xưa một thuở

Cô Bà có trước Cô Ba, nhưng không ai nhớ Cô Bà là ai. Khoảng 1910 công ty xuất nhập cảng Pachod Frères có đại lý ở VN từng bán một sản phẩm tên “Savon Cô Bà” do họ đặt Cty F. Moreau & Fils bên Pháp sản xuất. Đầu thập niên 1920 họ đổi tên thương hiệu từ “Cô Bà” thành “Cô Ba”. Khi Pháp rời Đông Dương, nhãn hiệu cầu chứng “Cô Ba” của Pachod hết hiệu lực. Sau này người Việt quen gọi “Xà Bông Việt Nam” của ông Trương văn Bền là xà bông Cô Ba vì có hình một phụ nữ nhiều người lầm tưởng là cô Ba Trà nức tiếng thuở nào…

Không biết bạn tôi kiếm đâu ra cục xà bông thơm Cô Ba mang ra khoe với bạn bè. Anh kể: “Về Sài Gòn đi mua đồ ở siêu thị bỗng dưng bắt gặp mấy hộp xà bông Cô Ba trưng bày trong một góc trên kệ khá khiêm tốn, tiện tay mua vài ba hộp mang về tặng cho các bạn làm quà…” Anh bạn tôi nói anh mua mấy cục xà bông, “Một là để nhớ lại hương xưa; hai là ghi nhớ công lao của người mở đường cho nền kỹ nghệ sản xuất xà bông Việt Nam mà cha tôi từng có thời gian dài làm tài xế chuyên chở cho công ty Xà Bông Việt Nam có trụ sở trên đường Kim Biên, ở Chợ Lớn”. Thuở đó, hồi năm 1960, ông Trương Văn Bền không còn làm chủ tại công ty, và cha anh chỉ thấy ông qua tấm ảnh lớn treo trong phòng làm việc của ông Tổng giám đốc Trương Khắc Trí. Anh nhớ cha kể lại rằng năm đó cha anh xin được công việc tài xế lái xe tải cho công ty. Ông làm công việc này khá lâu, cho đến năm 1980 qua các đời Tổng giám đốc Trương Khắc Huệ, rồi đến ông Trương Khắc Cần. Ông được nghe nhiều câu chuyện kể rằng ông Trương Văn Bền giao công ty lại cho các con từ năm 1948, sang Pháp sống tại Paris cho đến khi qua đời vào năm 1956.

Ðể có một công ty sản xuất xà bông lớn nhất Nam kỳ vào thời ấy không phải dễ dàng, chưa kể những đối thủ cạnh tranh trong lãnh vực chế tạo xà bông đã xuất hiện trước đó cũng như sau khi ông thành lập Công ty Trương Văn Bền và các con – Dầu và Xà Bông Việt Nam (Truong Van Ben & fils – Huilerie et Savonnerie Vietnam) vào năm 1932 tại 40 Rue du Cambodge tức đường Kim Biên ngày nay. Trước đó Nam kỳ đã có công ty Savon 72 (tức xà bông 72 phần dầu), và sau đó Kỹ sư hoá chất Nguyễn Thành Nam du học bên Pháp về thấy xứ dừa quê mình là nguồn nguyên liệu chế biến dầu làm xà bông dồi dào nên ông mở công ty sản xuất xà bông; nhưng rất tiếc là ông thất bại. Sau khi thất bại trên thương trường, ông tự tu học và thành lập giáo phái riêng gọi là Ðạo Dừa, mở đạo tràng tại cồn Phụng, Bến Tre, rồi sau đó xây Chùa Hoà Ðồng Tôn Giáo ở Phú Lâm.

Trước khi thành lập Công ty Dầu và Xà Bông Việt Nam, ông Trương Văn Bền nối nghiệp cha, bắt đầu theo nghề buôn đậu xanh, đậu phộng, đường… Nói chung là một tiệm bán sỉ hàng ngũ cốc tại chính địa chỉ công ty Trương Văn Bền và các con sau này. Nói là tiệm buôn nhưng thực chất quy mô không nhỏ trên diện tích đất của công ty vào thuở đó. Ngay cả các kho hàng lớn bên đường Ðồng Tháp gần đấy cũng là của cha ông Trương Văn Bền để lại cho mấy anh em của ông.

Là người biết cách làm ăn, năm 1905 ông Trương Văn Bền mua máy ép dầu chạy bằng hơi nước từ bên Pháp về, mở xưởng sản xuất và luyện tinh dầu ở Thủ Ðức. Công việc làm ăn thuận lợi, ông lấn sân sang các nhà máy xay gạo, xây dựng nhà hàng khách sạn. Tuy vậy những loại việc kinh doanh này không thu lợi bằng việc sản xuất các loại dầu. Năm 1918, ông mua thêm máy móc, khuếch trương sản xuất các loại dầu nấu ăn từ đậu phộng, dầu dừa, dầu cao su… kể cả các loại dầu dùng trong kỹ nghệ.

Trong ký sự “Một tháng ở Nam Kỳ” viết năm 1918, nhà báo Phạm Quỳnh có nhắc đến Trương Văn Bền: “Ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc Kỳ về xem nhà máy dầu và nhà máy gạo của ông ở Chợ Lớn. Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên, đã to tát như thế mà chúng tôi thấy hứng khởi trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông, ngõ hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nhà và thoát ly được cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp”.

Trong đoạn ký của Phạm Quỳnh viết về ông Trương Văn Bền có hàm ý không coi ông là một người Tàu. Thực chất gốc gác tổ tông của ông Trương Văn Bền là người Quảng Ðông chạy sang Việt Nam lánh nạn nhà Thanh. Từ đời ông nội của ông là ông Trương Quốc Thái có thể được xem là người Việt Nam rồi. Ông Thái từng giữ chức Huyện thừa ở Rạch Giá; đến đời Tự Ðức được phong làm Phủ doãn Bình Thuận. Sau khi ông nội mất, cha ông là Trương Quanh Thanh về Chợ Lớn lập gia đình, làm ăn buôn bán. Trương Văn Bền sinh ở Chợ Lớn. Thuở nhỏ ông thừa hưởng nền giáo dục Hán học Tây học; lớn lên ông mang quốc tịch Liên bang Ðông Dương (xứ thuộc địa của Pháp), để thuận lợi làm ăn và phát triển sự nghiệp trên thương trường.

Nhờ những thành công trên thương trường, ông Trương Văn Bền được nhiều quan chức Pháp biết đến và mời ông tham gia vào những hoạt động kinh tế, chính trị ở xứ Nam kỳ, kể cả toàn cõi Ðông Dương. Ông hoạt động kinh tế trong nhiều lãnh vực. Một tài liệu ghi nhận, năm 1941 số tiền thuế của ông đóng cho chính phủ là 107,000 đồng (giá vàng thời điểm đó là 60đ/lượng).

Chiến tích thương trường của ông Trương Văn Bền kể ra thì không xiết. Bạn tôi cầm cục xà bông Cô Ba đưa lên mũi, thả hồn theo hương thơm Cô Ba từ một thuở xa xăm. Bạn nói ông nội tôi hồi còn sống kể rằng, thuở đời ông xà bông dùng trong nước và cả Ðông Dương đều nhập từ Pháp. Trong nước có sản xuất rất ít, chỉ là một loại xà bông đá dùng để giặt quần áo. Ngay cả xà bông đá, hầu hết người Việt mình cũng hiếm khi xài vì nghèo. Người nghèo thường dùng nước tro từ củi nấu, lắng lấy nước rồi ngâm quần áo, giặt giũ, đem phơi. Xà bông cho dùng là xà bông đá cũng là thứ hàng xa xỉ.

Ông Trương Văn Bền khôn khéo khai thác tâm lý người tiêu dùng. Mặt khác ông gia tăng sản xuất, hạ giá thành để có thể bán đến tay từng gia đình khắp xứ Ðông Dương. Trong báo Nam kỳ Lục Tỉnh Tân Văn năm 1932, khi Công ty Xà bông Việt Nam của ông Trương Văn Bền khai trương, ông đăng lời quảng cáo: “Người Việt Nam nên xài xà bông Việt Nam”. Việc lấy thương hiệu Savon Việt Nam hẳn là một chiến lược tiếp thị khôn ngoan của ông Trương Văn Bền.

Trong một đoạn hồi ký của ông Trương Văn Bền viết vào những năm cuối đời tại Paris, ông viết: “Tôi phải làm quảng cáo dữ lắm cho thương hiệu xà bông Cô Ba. Một mặt phải kiếm thế ép mấy hàng tạp hóa mua xà-bông Việt Nam về bán, vì tiệm tạp hóa hầu hết của khách trú, chúng xấu bụng không mấy khi chịu mua đồ của người Việt Nam chế tạo về bán, chỉ trừ khi nào món đồ ấy đã được thông dụng đem cho chúng một mối lợi hàng ngày thì chúng mới chịu mua. Tôi bèn huy động một tốp người cứ lần lượt hàng ngày đi hết các tiệm tạp hóa hỏi có xà bông Cô Ba bán không? Hễ có thì mua một, hai xu, bằng không thì đi chỗ khác, trước khi bước chân ra khỏi tiệm nói với lại một câu: “Sao không buôn xà bông Việt Nam về bán? Thứ đó tốt hơn xà bông khác nhiều”. Hết người này tới người khác rồi chủ tiệm cũng phải để ý lấy làm lạ, phải hỏi lại chỗ bán xà bông Việt Nam, cho người mua thử về bán. Tôi còn tổ chức những tốp quảng bá thương hiệu. Tốp thì ôm đờn ca vọng cổ tán dương tính chất của xà bông của hãng mình, tốp thì đi đánh võ rao hàng, rồi đá banh tôi cũng cho mặc áo thêu thương hiệu xà bông của hãng. Nói tóm lại tôi không bỏ lỡ một dịp nào mà không làm quảng cáo, nên xà bông Việt Nam bán chạy lắm”.

Các chiêu thức tìm khách, quảng cáo món hàng xà bông của ông Trương Văn Bền bày tỏ trong hồi ký còn rất nhiều. Tôi nghĩ đây là một cuốn sách hay cho những ai làm nghề thương mại. Thủ đoạn kinh doanh nhưng không làm hại người khác, mục đích là làm sao tiêu thụ được sản phẩm, đưa nó trở thành thương hiệu. Ngay cả bây giờ, khi nhắc đến xà bông thơm, người Sài Gòn ai cũng nhớ đến xà bông Cô Ba – hương xưa một thuở cho dù về sau có thêm nhiều mặt hàng xà bông thơm khác lần lượt bước vào thị trường.

Cô Ba là ai mà được ông Trương Văn Bền chọn biểu tượng cho sản phẩm xà bông thơm và các loại mỹ phẩm dưỡng da? Ông Nguyễn Ðức Hiệp ghi lại là: “Một trong những tin đồn huyền thoại dân gian kể lại thì Cô Ba chính là con gái Thầy Thông Chánh ở Trà Vinh, người đàn bà đẹp nhứt Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20. Theo ông Hứa Hoành viết về Những nhà phú hộ và người lừng danh ở Nam kỳ, thì cái hay của ông Trương Văn Bền là biết áp dụng tâm lý, đưa hình ảnh Cô Ba, người đẹp huyền thoại trong dân gian làm nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hoá của mình bán chạy. Nhưng các giai thoại và tin đồn như trên về Cô Ba đều không đúng. Thật ra người phụ nữ ấy chính là người vợ của ông. Ta có thể thấy hình ảnh trên nhãn hiệu và ảnh của phu nhân ông Trương Văn Bền là một. Vả lại, trước kia trong phòng làm việc của ông tại công ty Xà Bông Việt Nam có tượng bằng đồng đen hình vợ ông dùng làm mẫu cho hình trên hộp xà bông”.

Photos from Xà Bông Cô Ba's post 18/05/2019

Bà mình nói: " Bánh xà bông này là cả một kí ức tuổi thơ của bà, cả thanh xuân và mối tình đầu của bà. Khi món quà đầu tiên ông tặng cho bà là bánh xà bông thơm phức đựng trong cái cặp tap da cũ kĩ "

Photos from Xà Bông Cô Ba's post 18/05/2019

ĐÔI NÉT VỀ THƯƠNG HIỆU XÀ BÔNG CÔ BA VIỆT NAM:

Cha đẻ của xà bông Cô Ba là ông Trương Văn Bền. Ông Bền sinh năm 1883, con nhà buôn bán khá giả. Học giỏi và được Pháp tuyển dụng làm ký lục thượng thư nhưng chỉ hai năm ông nghỉ làm để về buôn bán ở cửa hàng của gia đình.

Đến năm 1905, ông mở một xưởng sản xuất và tinh luyện tinh dầu ở Thủ Đức. Xưởng làm ăn phát đạt nên ông có tiền mở tiếp hai nhà máy xay xát gạo ở Chợ Lớn, rồi mở khách sạn nhưng lợi nhuận chủ yếu vẫn từ xưởng tinh dầu.

Đến năm 1918, ông Bền mở xưởng dầu thứ hai. Xưởng này sản xuất “đa hệ” từ dầu nấu ăn đến dầu dừa, dầu castor, dầu cao su và các loại dầu dùng trong kỹ nghệ. Nhận thấy tiềm năng dừa ở miền Nam rất lớn nên ông Bền đầu tư vào sản xuất dầu dừa và chính từ dầu dừa đã gợi ý cho ông đi đến bước tiếp theo là sản xuất xà bông.

Vào thời điểm đó, thị trường xà bông ở Việt Nam chủ yếu là hàng Pháp nhập vào, gọi chung là xà bông Marseille. Xà bông trong nước rất ít, chỉ có một số cơ sở sản xuất nhỏ lẻ chiếm thị phần không đáng kể, phần lớn họ sản xuất xà bông “đá” có mùi khó chịu, chỉ để rửa tay hay giặt giũ cho giới lao động, ít ai dám mạo hiểm đầu tư vào mảng xà bông thơm để tắm gội. Ông Bền đã quyết tâm đầu tư vào mảng này để cạnh tranh với hàng ngoại nhập.

Trong hồi ký của mình, ông Bền kể lại: “Tôi đang tìm kiếm tên nào kêu, dễ gọi, dễ nhớ để đặt tên cho xà bông mà chưa kiếm ra. Ngoài Bắc, phong trào cách mạng Việt Nam quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học cầm đầu nổi lên nhiều chỗ và thất bại. Đến lúc Tây xử tử họ ở Yên Bái thì mười người như một, trước khi đút đầu vô máy chém đều bình tĩnh hô to “Việt Nam vạn tuế” gây một luồng dư luận sôi nổi ở trong nước và thế giới.

Tôi chụp lấy vụ này, lấy tên Việt Nam đặt cho xà bông do người Việt sản xuất để nêu lòng ái quốc đang bùng lên: Xà bông của người Việt làm cho người Việt, người Việt yêu nước phải dùng đồ Việt Nam”.

Nghệ thuật quảng cáo của ông Bền
Xà bông Cô Ba có công thức rất đơn giản: 72% là dầu dừa, còn lại là xút và hương liệu. Tất nhiên ông có bí quyết để mua được loại hương liệu tạo mùi thơm lâu bền nhưng chính quảng cáo mới là lý do lớn nhất khiến nhãn hiệu xà bông này lan rộng nhanh chóng ở miền Nam lúc đó.

Đầu tiên, ông vận động cho việc dùng hàng nội hóa. Các quảng cáo của ông thường ghi dòng chữ “Người Việt Nam nên xài xà bông của Việt Nam” để đánh vào lòng yêu nước, tự hào dân tộc.

Ông phủ dày đặc các quảng cáo trên áp phích, trên xe điện, xe hơi, trên áo đấu cầu thủ bóng đá, ông đưa cả vào các thể loại âm nhạc rất được ưa chuộng như ca vọng cổ, tuồng cải lương…

Một chiêu khác cũng được ông Bền kể lại trong hồi ký: “Tôi phải kiếm cách ép mấy hàng tạp hóa mua xà bông Việt Nam về bán. Tiệm tạp hóa hầu hết chỉ mua các món đồ thông dụng, đem lại cho họ mối lợi hằng ngày.

Tôi bèn huy động một tốp người cứ lần lượt hằng ngày đi hết các tiệm tạp hóa hỏi có xà bông Cô Ba bán không. Hễ có thì mua một, hai xu, bằng không thì đi chỗ khác, trước khi bước chân ra khỏi tiệm nói với lại một câu: “Sao không mua xà bông Việt Nam về bán? Thứ đó tốt hơn xà bông khác nhiều”.

Hết người này tới người khác rồi chủ tiệm cũng phải để ý, phải hỏi lại chỗ bán xà bông Việt Nam, mua thử về bán”.

Thực ra chiêu này cũng không phải độc vì một vài dạng hàng hóa cũng từng sử dụng, độc nhất là công ty tổ chức các đoàn sơn đông mãi võ đi biểu diễn khắp các chợ quê miền Nam để quảng bá. Sơn đông mãi võ đến chợ nào người ta cũng bu lại đông nghẹt để xem nhưng gánh thường bán thuốc, khó bán vì không phải ai cũng có nhu cầu mua thuốc và kiểm chứng chất lượng, còn xà bông ai chẳng có nhu cầu. Số xà bông bán qua hình thức này đã nhiều mà còn khiến bà con ghi nhớ thương hiệu.

Thăng trầm một thương hiệu
Sự thành công của xà bông Cô Ba khiến nhiều người khác cũng lao vào kinh doanh mặt hàng, như bà đốc phủ Mầu ra xà bông Con Cọp, ông Balet ra xà bông Nam-Kỳ cũng có biểu tượng người đàn bà Việt Nam như xà bông Cô Ba, ông Nguyễn Phú Hữu ra xà bông “3 sao” ở Cần Thơ… Nhưng tất cả họ đều không địch nổi.

Ngay ông Đạo Dừa khi chưa đi tu, lúc đó là kỹ sư hóa học Nguyễn Thành Nam vừa du học ở Rouen (Pháp) về Bến Tre mở hãng xà bông Thiên Nam để cạnh tranh với xà bông Cô Ba và cũng thua thảm.

Cỡ như ông Đạo Dừa vốn chuyên gia hóa chất học ở Pháp về, quê ngay xứ dừa còn phải phá sản thì mấy tay ngang khác sao địch lại nổi!

Sau năm 1954, không còn xà bông Pháp, xà bông Cô Ba cạnh tranh với xà bông Mỹ, trong đó đáng kể nhất là xà bông Lifebuoy. Bởi vì đây là loại xà bông dành cho quân đội Mỹ, còn gọi là hàng PX (Post Exchange) bán miễn thuế cho lính Mỹ nên giá rất rẻ, lính Mỹ mua tuồn ra chợ đen, tương tự là xà bông quân tiếp vụ đóng trong hòm gỗ…

Ngoài ra còn có ông Trương Văn Khôi, chủ nhân của nhãn hiệu bột giặt Viso, cũng là một thế lực mạnh nhưng xà bông Cô Ba vẫn giữ được thị phần lớn.

Sau năm 1975, Công ty Trương Văn Bền và các con trở thành Nhà máy hợp doanh xà bông Việt Nam thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ. Đến năm 1995 trở thành Công ty Phương Đông thuộc Bộ Công nghiệp liên doanh với Tập đoàn Procter & Gamble, thương hiệu xà bông Cô Ba được sử dụng lại.

18/05/2019

Xà Bông Cô Ba

Người Nam Bộ thời trước, không ai không biết đến Xà Bông Cô Ba, với hình ảnh quen thuộc là người phụ nữ phúc hậu với mái tóc bới cao theo kiểu cách Nam bộ.
Nhờ chất lượng tốt, giá thành thấp, Xà Bông Cô Ba nổi tiếng không những tại Việt Nam, mà còn lan rộng sang tận xứ Cao Miên và Lào, thậm chí còn xuất qua Hương Cảng, châu Phi và Tân Đảo. Nhãn hiệu xà bông thơm này nổi danh trong mấy thập niên liền, đánh bật cả các đối thủ nặng ký nhập từ Marseille của người Pháp đang thống lĩnh thị trường.

Xà Bông Cô Ba có hai loại, loại xà bông thơm để tắm, loại 72 phần dầu dùng để giặt giũ (còn gọi là xà bông cây, xà bông đá).

Slogan quảng cáo bằng tiếng Pháp với nội dung: 'Sử dụng xà bông này cho người phụ nữ của bạn có vẻ đẹp hoàn hảo' được giăng khắp các con phố, đã đánh trúng vào tâm lý người tiêu dùng, đồng thời cho thấy tài chiến lược kinh doanh của ông chủ họ Trương. Khắp các con phố Sài Gòn xưa, dễ dàng nhìn thấy biển quảng cáo xà bông Cô Ba.
Xà Bông Cô Ba cũng xuất hiện trên các báo chí thời bấy giờ với lời quảng cáo :
"Dùng xà bông xấu, mục quần áo"
"Người Việt Nam nên xài xà bông của Việt Nam",
"Bột giặt Việt Nam giặt trắng phau, ít hao, mau sạch".
Ăn theo sự thành công của xà phòng Cô Ba, còn có dòng sản phẩm dầu thơm, nước hoa, dầu gội Cô Ba
Đặc biệt trong các cuộc triển lãm, gian hàng của công ty luôn tạo ấn tượng cho khách bởi mô hình cục xà bông khổng lồ gây được sự chú ý và tò mò đặc biệt của người xem. Chưa dừng lại ở đó, tại các gian hàng còn có bán xà bông gọi là chào hàng với giá rẻ hơn bình thường đến 25%.

Tỷ phú người Việt gốc Hoa (người Minh Hương, gốc Triều Châu) Trương Văn Bền (1883-1956), chủ nhân thương hiệu Xà Bông Cô Ba, đã thành công rực rỡ trên thương trường, nhưng lại không hề trải qua trường lớp kinh doanh nào. Ông là nhà kinh doanh Việt có nhiều sáng kiến,tài kinh doanh tháo vát, thông tuệ.

Trong thập niên 1930, việc đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, công ty của ông Bền chỉ mới phân phối ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa; còn lại phải nhờ đến hệ thống của người Hoa. Về sau, việc phân phối này cũng đã được cải tiến, hãng dùng các đại lý để phân phối sản phẩm đến các tỉnh.
Cho đến năm 1959, ông Tăng Long, trên cương vị là giám đốc thương mại, xin phép sử dụng ngân sách của công ty gần nửa triệu đồng, đã thuê một đoàn... võ thuật đi cổ động cho sản phẩm Cô Ba từ Sài Gòn ra đến sông Bến Hải.
Không chỉ đến chợ búa, mà họ còn đi vào tận các làng, xã, đến đâu là họ biểu diễn võ thuật, văn nghệ để lôi cuốn đám đông và trực tiếp bán hàng cho dân chúng. Ai mua bao nhiêu cũng bán, cốt là để người tiêu dùng quen với mặt hàng của mình...
Nhờ thế, tiếng tăm và xà bông Cô Ba ngày càng nhiều người biết đến.

Về hình ảnh Cô Ba, có nhiều giai thoại.
Thứ nhất là do vợ của ông Bền được mọi người quen gọi cô Ba.
Lý do thứ hai mới quan trọng hơn, mới là ý nguyện mà ông Bền bày tỏ một cách kín đáo về lòng tự hào dân tộc: nhãn hiệu xà bông của ông có in hình phụ nữ búi tóc, tiêu biểu cho người con gái Nam bộ, người tiêu dùng quen gọi là cô Ba.
Cô Ba là người phụ nữ đẹp nhứt Nam Kỳ Lục Tỉnh hồi đầu thế kỷ 20, và cũng có lẽ là người phụ nữ Việt đầu tiên là người mẫu cho một thương hiệu hàng hoá Việt.

Theo cụ Vương Hồng Sển:
“Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia hồi Tây mới đến, có cô Ba con thầy Thông Chánh là đẹp không ai bì, không răng giả, không ngực keo cao su nhân tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt ướt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp vì không son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi nhà nước in hình vào con tem Nhà Dây thép, và một hiệu xà bông xin phép làm mẫu rao hàng xà bông Cô Ba”.

Cô Ba là con gái thầy Thông Chánh - tên thật Nguyễn Văn Chánh, còn gọi Nguyễn Trung Chánh - là người dám cầm súng bắn chết tên Biện lý Joboin, bị tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19.6.1893 và xử tử hình tại Trà Vinh.
Theo bài vè Thầy Thông Chánh lưu hành tại Nam kỳ đầu thế kỷ 20, thầy Thông Chánh hành động như thế vì tay Biện lý Joboin đã ve vãn vợ con mình.

Yếu tố để ông Bền mạnh dạn làm điều đó vì khi thực dân Pháp đưa thầy Thông Chánh ra tòa kết án, cô Ba đã mắng nhiếc chúng không tiếc lời, vì thương cha.
Hành động “nữ nhi anh hùng” của cô Ba ít nhiều có ý nghĩa tích cực khơi dậy trong quần chúng tinh thần bất khuất của dân tộc, đánh trúng vào tâm lý của những người thấp cổ bé miệng.

Và nếu ông Bạch Thái Bưởi ở miền Bắc lấy tên các anh hùng dân tộc đặt cho thuyền bè của mình, thì ở miền Nam việc ông Trương Văn Bền dùng tên Cô Ba quảng bá cho sản phẩm cũng có chung một ý nghĩa vận dụng tinh thần và hành động phản kháng, nhằm khai thác tinh thần tự tôn dân tộc.

Trên thương trường những năm đầu giữa thế kỷ 20, khi mà nền kinh tế nước nhà đang nằm trong tay ngoại bang, thì nó cũng như một vũ khí sắc bén để chiến thắng đối thủ cạnh tranh.

Những năm cuối đời, tỷ phú Sài Gòn Trương Văn Bền sống ở Pháp. Ông đã viết một cuốn hồi ký kể về con đường xây dựng thương hiệu “Cô Ba” của mình – một thương hiệu khiến cho nhiều người Âu đến Việt Nam phải nể phục.

Nguồn: Made In Sài Gòn


Want your business to be the top-listed Gym/sports Facility in TP. HCM?

Click here to claim your Sponsored Listing.

Location

Telephone

Address


Tp. Hcm